Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Thanh Hóa

:

Trang thông tin sự kiện, những hoạt động của đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Thanh Hóa

Bình chọn»



loading...
Mở công cụ cấu hình. List 'CauHoiBinhChon' does not exist at site with URL 'http://thanhhoadbnd.vn'.

Tóm tắt tổng hợp kết quả giải quyết và trả lời của các Bộ, ngành Trung ương về những kiến nghị cử tri Thanh Hoá gửi đến kỳ họp thứ 4, QH khóa XIII  (04/05/2013 5:00:00 CH)

Thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri chuẩn bị nội dung cho kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá XIII, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hoá đã tổng hợp được 17 nhóm ý kiến, kiến nghị thuộc 03 lĩnh vực (kinh tế, văn hóa – xã hội, tư pháp - xây dựng pháp luật) của cử tri Thanh Hoá gửi đến 11 cơ quan chức năng của Quốc hội, Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương.

Tính đến 15/4/2013 đã có 07 cơ quan chức năng trả lời bằng văn bản về 12 nhóm ý kiến, kiến nghị mà cử tri nêu (gồm Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Tòa án nhân dân tối cao). Kết quả giải quyết, trả lời cử tri của các cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền đã được đăng tải kịp thời trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương và trên website của Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh. Hiện còn 05 kiến nghị đối với Chính phủ, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang được xem xét giải quyết, đó là:

-         Xem xét điều chỉnh chính sách đầu tư xây dựng nông thôn mới đối với các huyện miền núi, nhất là ở các huyện nghèo đang thực hiện chương trình 30a phải cao hơn so với vùng khác;

-         Về cơ chế hỗ trợ về lãi suất cho vay đối với các dự án đóng tầu đánh bắt xa bờ;

-         Về vấn đề bảo đảm an sinh xã hội;

-         Chính sách đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động, nhất là lao động ở nông thôn;

-         Về đầu tư về xây dựng cơ sở vật chất, phục vụ giáo dục tại các xã.

Sau đây là tổng hợp kết quả giải quyết và trả lời của các cơ quan chức năng:

I.       Lĩnh vực kinh tế

1.  Ý kiến, kiến nghị của cử tri

            Đề nghị Thủ tướng Chính phủ bố trí vốn để triển khai thực hiện 02 tiểu dự án thuộc Dự án nâng cấp, cải tạo Quốc lộ 15 đoạn từ đường Hồ Chí Minh đến Mai Châu, tỉnh Hoà Bình, gồm: Tiểu dự án 3 qua tỉnh Thanh Hoá từ km 53+00 - km 109+00, đã được Bộ Giao thông vận tải phê duyệt tại Quyết định số 2793/QĐ-BGTVT ngày 23/9/2010 bằng nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ. UBND tỉnh Thanh Hoá đã có văn bản đề nghị số 6422/UBND-CN ngày 26/9/2011, các bộ ngành trung ương đã có văn bản đề nghị Thủ tướng Chính phủ ghi vốn để triển khai song đến nay vẫn chưa bố trí được vốn.

Tiểu dự án 2 từ km 20 - km 43+564 đoạn tránh ngập Thuỷ điện Hồi Xuân đã được Tổng cục đường bộ Việt Nam phê duyệt tại Quyết định số 2258/QĐ-TCĐBVN ngày 29/10/2009. Do đoạn tránh ngập Thuỷ điện Hồi Xuân cần được hoàn thành trước khi chặn tích nước hồ chứa, để đảm bảo giao thông an toàn và thông suốt trên Quốc lộ, UBND tỉnh Thanh Hoá đã có văn bản báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Văn phòng Chính phủ đã có Công văn số 6435/VPCP-KTTH ngày 22/8/2012 giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với với Bộ Tài chính, Bộ Giao thông vận tải xem xét, ưu tiên bố trí vốn từ ngân sách nhà nước để triển khai dự án.

Trả lời: (Công văn số: 9322/BGTVT-KHĐT ngày 05/11/2012 của Bộ Giao thông vận tải v/v trả lời kiến nghị cử tri tỉnh Thanh Hóa và Công văn số: 1180/BKHĐT-TH ngày 23/02/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư v/v giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi tới kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII)

- Dự án nâng cấp, cải tạo Quốc lộ 15 đoạn qua hai tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa được Bộ GTVT phê duyệt với tổng mức đầu tư là 2.250 tỷ đồng. Dự án được chia thành 3 tiểu dự án:

+ Tiểu dự án 1: Nâng cấp đoạn Km0+00 – Km20+00, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình được Bộ GTVT phê duyệt dự án đầu tư tại QĐ số 3115/QĐ-BGTVT ngày 29/10/2010;

+ Tiểu dự án 2: Đoạn tránh ngập thủy điện Hồi Xuân (Km20+00 – Km43+564,3), huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa được Bộ GTVT ủy quyền cho Tổng cục Đường bộ Việt Nam phê duyệt dự án đầu tư tại QĐ số 2358/QĐ-TCĐBVN ngày 29/10/2009;

+ Tiểu dự án 3: Nâng cấp đoạn Km53+00 (trùng với Km43+564) – Km109, huyện Quan Hóa, Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa được Bộ GTVT phê duyệt dự án đầu tư tại QĐ số 2793/QĐ-BGTVT ngày 23/9/2010.

- Thực hiện Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ và Chỉ thị 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ với mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, dự án chưa thể bố trí nguồn vốn để khởi công. Bộ GTVT đang chỉ đạo Tổng cục Đường bộ Việt Nam tăng cường công tác duy tu, bảo dưỡng để đáp ứng nhu cầu đi lại trước mắt. Riêng Tiểu dự án 2, đoạn tránh ngập thủy điện Hồi Xuân, Bộ GTVT đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ KH&ĐT, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ GTVT cân đối ưu tiên bố trí vốn triển khai trước đồng bộ với tiến độ tích nước của Thủy điện Hồi Xuân. Hiện nay, Bộ KH&ĐT đang cân đối trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Đối với các đoạn còn lại, Bộ GTVT sẽ tích cực phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương tìm kiếm nguồn vốn để có thể đầu tư sớm.

- Dự án nâng cấp, cải tạo quốc lộ 15 tiểu dự án 2 đoạn tránh ngập thủy điện Hồi Xuân đã được bố trí vốn kế hoạch năm 2013 là 30 tỷ đồng. Đề nghị tỉnh Thanh Hóa phối hợp các cơ quan liên quan triển khai thực hiện theo quy định.

2.  Ý kiến, kiến nghị của cử tri

Kiến nghị Quốc hội, Chính phủ tiếp tục bố trí vốn từ Trái phiếu Chính phủ cho các dự án đang thi công dở dang như:

 - Dự án nâng cấp, cải tạo đường Hồi Xuân Tén Tằn có chiều dài 111 km từ km0 - km111+319, có tổng mức đầu tư là 1.371 tỷ đồng, đã khởi công xây dựng từ tháng 02/2010, tổng vốn đã giao cho dự án đến nay là 365 tỷ đồng.

 - Dự án tuyến nối các huyện phía Tây Thanh Hoá giai đoạn 1, bao gồm tuyến chính dài 170 km và tuyến ngang dài 137 km, tổng mức đầu tư giai đoạn 1 là 3.598 tỷ đồng. Tổng vốn đã giao đến nay là 1.690 tỷ đồng.

Trả lời: (Công văn số 1180/BKHĐT-TH ngày 23/02/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư v/v giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi tới kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII)

- Dự án nâng cấp, cải tạo đường Hồi Xuân Tén Tằn có chiều dài 111km từ km0 – km111+319, có tổng mức đầu tư là 1.371 tỷ đồng, đã khởi công xây dựng từ tháng 02/2010, tổng vốn đã giao cho dự án đến nay là 365 tỷ đồng. Hiện vốn trái phiếu Chính phủ của dự án đã được giao giai đoạn 2012 – 2015 là 389 tỷ đồng, trong đó năm 2012 là 80,715 tỷ đồng.

- Dự án tuyến nối các huyện phía Tây Thanh Hóa giai đoạn 1, bao gồm tuyến chính dài 170km và tuyến ngang dài 137km, tổng mức đầu tư giai đoạn 1 là 3.598 tỷ đồng. Tổng vốn đã giao đến nay là 1.690 tỷ đồng. Hiện vốn trái phiếu Chính phủ của dự án đã được giao giai đoạn 2012 – 2015 là 950 tỷ đồng, trong đó năm 2012 là 200 tỷ đồng.

3.  Ý kiến, kiến nghị của cử tri

 Tỉnh Thanh Hóa có 11 huyện miền núi, trong đó huyện Quan Sơn là một trong 7 huyện nghèo thuộc Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững, nhưng chưa có trong danh mục các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được ưu đãi đầu tư quy định tại Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ. Đề nghị Chính phủ sớm bổ sung huyện Quan Sơn vào danh mục địa bàn ưu đãi đầu tư.

Trả lời: (Công văn số 1180/BKHĐT-TH ngày 23/02/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư v/v giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi tới kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII)

Hiện nay, dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 108/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư (đang trình Chính phủ thông qua) đã bổ sung huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa và danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn là địa bàn ưu đãi đầu tư ban hành kèm theo Nghị định này.

4.  Ý kiến, kiến nghị của cử tri

Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Thanh Hoá đang được tập trung chỉ đạo và đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện vẫn còn có những bất cập, cử tri tiếp tục đề nghị Chính phủ và các Bộ ngành liên quan nghiên cứu sửa đổi một số tiêu chí cho phù hợp với từng vùng như: diện tích nhà văn hóa, đường giao thông, chợ nông thôn, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp... Đồng thời cần có chính sách ưu tiên nguồn vốn xây dựng kết cấu hạ tầng cho địa phương ở những vùng, miền khó khăn và hỗ trợ kinh phí cho các xã trong việc lập quy hoạch xây dựng nông thôn mới. Quy định tỷ lệ cơ cấu nguồn vốn đầu tư cho phù hợp với điều kiện cụ thể vùng, miền (Đề nghị vốn ngân sách 60%, tín dụng 20%, doanh nghiệp 15%, dân góp 5%) để giảm đóng góp cho nhân dân vốn còn rất nhiều khó khăn.

Trả lời: (Công văn số 525/BNN-KTHT ngày 07/02/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)

1. Để tăng nguồn lực hỗ trợ cho các địa phương xây dựng nông thôn mới, ngay từ đầu năm 2012 Chính phủ đã kịp thời chỉ đạo các Bộ, ngành và địa phương thực hiện, cụ thể như sau:

- Giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Xây dựng cơ chế lồng ghép các Chương trình MTQG trên cùng một địa bàn; đề xuất các giải pháp để nâng tổng mức hỗ trợ từ ngân sách Trung ương trực tiếp cho Chương trình xây dựng NTM; phối hợp với Bộ Tài chính hướng dẫn, gợi ý các địa phương về cân đối các nguồn vốn từ ngân sách Trung ương để lồng ghép thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM; chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan tăng cường vận động thu hút thêm nguồn vốn ODA cho Chương trình, trong đó lưu ý vận động nguồn hỗ trợ từ Ngân hàng Thế giới.

- Giao Bộ Tài chính khẩn trương tìm nguồn cân đối từ ngân sách Trung ương để hỗ trợ cho các địa phương thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM; hướng dẫn sử dụng kinh phí được hỗ trợ theo Nghị định 42/2012/NĐ-CP ngày 11/5/2012 về quản lý và sử dụng đất trồng lúa theo hướng ưu tiên bố trí cho các nội dung gắn với xây dựng NTM.

- Các địa phương: Từ năm 2012, các cấp ngân sách địa phương (tỉnh, huyện) phải ưu tiên cân đối chi ngân sách hàng năm cho Chương trình MTQG xây dựng NTM để đảm bảo ổn định trong kế hoạch hàng năm (trước mắt là giai đoạn 2013 - 2015) và không phụ thuộc vào nguồn vượt thu.

2. Việc huy động sức dân trong xây dựng NTM là cần thiết để phục vụ lợi ích của chính người dân và cộng đồng. Việc làm này đã phát huy hiệu quả trong thời gian qua, được người dân tham gia tích cực. Tuy nhiên, trong điều kiện đời sống của người dân còn khó khăn, thời gian thực hiện chương trình còn dài, khối lượng công việc lớn vì vậy cần tránh tư tưởng nóng vội dẫn đến huy động quá sức dân. Để hạn chế tình trạng trên, Thủ tướng Chính phủ đã quy định cụ thể trong Điều 1 Quyết định số 695/QĐ-TTg ngày 08/6/2012 về sửa đổi nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020: “Chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã) không quy định bắt buộc nhân dân đóng góp, chỉ vận động bằng các hình thức thích hợp để nhân dân tự nguyện đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương. Nhân dân trong xã bàn bạc mức tự nguyện đóng góp cụ thể cho từng dự án, đề nghị Hội đồng nhân dân xã thông qua”.

3. Hỗ trợ đầu tư xây dựng hệ thống nước sạch nông thôn, các điểm thu gom và xử lý rác, rác thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt đã được Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể trong Quyết định số 695/QĐ-TTg ngày 08/6/2012 sửa đổi nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện Chương trình, trong đó ưu tiên các xã thuộc các huyện nghèo thuộc Chương trình 30a được hỗ trợ tối đa 100% từ ngân sách nhà nước. Đối với các xã còn lại, hỗ trợ một phần để thực hiện.

5.  Ý kiến, kiến nghị của cử tri

            Thanh Hóa là tỉnh có chiều dài đê lớn nhất cả nước, với 1.008km, trong đó: Đê từ cấp III- I là 292km; đê cấp IV, cấp V và đê biển là 716km. Trong những năm qua, mặc dù được sự quan tâm của Chính phủ, các Bộ ngành Trung ương ưu tiên đầu tư kinh phí tu bổ nâng cấp các tuyến đê. Tuy nhiên, do hệ thống đê của tỉnh rất lớn, trong khi nguồn ngân sách của địa phương lại hạn chế, nên đến nay nhiều tuyến đê, đặc biệt là các tuyến đê địa phương còn thấp, mặt đê nhỏ, chưa đảm bảo yêu cầu chống lũ, đầu tháng 9 vừa qua mưa lũ lớn đã gây tràn, vỡ một số điểm trên tuyến đê địa phương tại các huyện Thọ Xuân, Yên Định, Nông Cống, Triệu Sơn, Hà Trung gây thiệt hại nặng nề về đời sống của nhân dân.

            Vì vậy, cử tri Thanh Hoá đề nghị Chính phủ, các bộ ngành liên quan xem xét đầu tư kinh phí cho Thanh Hoá tu bổ, nâng cấp, kiên cố hoá các đoạn đê xung yếu nhằm đảm bảo yêu cầu phòng, chống lũ, đảm bảo cho nhân dân vùng ven đê yên tâm phát triển sản xuất.

            Trả lời: (Công văn số 109/BNN-TCTL ngày 09 tháng 01 năm 2013 của  Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn v/v trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Thanh Hóa)

            Bộ NN&PTNT đã tham mưu, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình nâng cấp đê biển và chương trình nâng cấp hệ thống đê sông tại các Quyết định số 58/2006/QĐ-TTg ngày 14/3/2006 và 2068/QĐ-TTg ngày 09/12/2009 với mục tiêu trước mắt là xóa các trọng điểm đê xung yếu, tiến tới nâng cấp đồng bộ hệ thống đê đảm bảo chống lũ thiết kế; đồng thời hàng năm đều bố trí kinh phí để địa phương thực hiện. Tính đến hết năm 2012, TW đã hỗ trợ tỉnh Thanh Hóa trên 1.121 tỷ đồng để thực hiện củng cố, nâng cấp đê, trong đó năm 2012 là trên 190 tỷ đồng.

            Hàng năm Bộ NN&PTNT đều ưu tiên bố trí nguồn kinh phí tu bổ đê điều thường xuyên và duy tu bảo dưỡng đê cho tỉnh Thanh Hóa để xử lý các trọng điểm xung yếu, năm 2012 đã bố trí 39,40 tỷ đồng/312,0 tỷ đồng trong tổng kinh phí tu bổ đê điều của cả nước cấp qua Bộ NN&PTNT. Tuy nhiên, do nguồn kinh phí được cấp hạn chế, vì vậy chưa đáp ứng được yêu cầu cho công tác tu bổ đê điều của cả nước nói chung và tỉnh Thanh Hóa nói riêng.

            Đối với thiệt hại trong đợt lũ tháng 9/2012, Bộ NN&PTNT đã phối hợp với các Bộ, tham mưu, trình Chính phủ hỗ trợ 80 tỷ đồng cho tỉnh Thanh Hóa để khắc phục sự cố đê và thiệt hại. Theo báo cáo của tỉnh, đến nay đã khắc phục, sửa chữa các hư hỏng đê đảm bảo chống lũ.

            Bộ NN&PTNT đề nghị UBND tỉnh Thanh Hóa chỉ đạo, thực hiện công văn số 1243/BNN-TCTL ngày 27/4/2012 của Bộ NN&PTNT về việc hướng dẫn thực hiện chương trình nâng cấp hệ thống đê sông để đảm bảo sử dụng nguồn vốn cho công tác tu bổ đê điều có hiệu quả nhất.

II. Về lĩnh vực văn hóa – xã hội:

1.  Ý kiến, kiến nghị của cử tri

            Thực hiện Nghị quyết số 11/2011/NQ-CP của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, hiện nay nhiều công trình trường học được đầu tư xây dựng mới bằng nguồn trái phiếu Chính phủ đang dừng thi công, trong đó có các công trình đang trong thời gian hoàn thiện, nên nhiều trường thiếu phòng học và không đủ điều kiện để đạt trường chuẩn quốc gia. Vì vậy, cử tri đề nghị Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành liên quan xem xét tiếp tục cấp vốn để các địa phương hoàn thành và đưa công trình vào sử dụng, đáp ứng yêu cầu dạy và học của các nhà trường.

Trả lời: (Công văn số1180/BKHĐT-TH ngày 23/02/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư v/v giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi tới kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII)

Ngày 24/02/2011, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 11/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Trong lĩnh vực đầu tư thực hiện theo nguyên tắc không cắt giảm vốn đầu tư ngân sách của kế hoạch năm 2011, mà các Bộ, ngành, địa phương căn cứ tình hình cụ thể của mình chủ động rà soát, ưu tiên tập trung đầu tư các dự án chuyển tiếp hoàn thành; nhờ đó số dự án hoàn thành đưa vào sử dụng tăng cao, dự án khởi công mới giảm, từng bước nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Thực tế Nghị quyết 11 không cắt giảm vốn, dự án chuyển tiếp vẫn được tiếp tục thực hiện và được ưu tiên thêm vốn, chỉ tập trung giảm số dự án khởi công mới chưa thực sự cấp thiết, dành vốn cho dự án hoàn thành, chuyển tiếp.

Đối với các tỉnh khó khăn vùng, năm 2011 đồng thời với việc thực hiện Nghị quyết 11/NQ-CP, Chính phủ đã đồng ý cho phép các dự án thuộc nhóm an sinh xã hội được tiếp tục thực hiện như: các dự án khắc phục hậu quả thiên tai, cấp bách, các dự án thuộc chương trình giảm nghèo 30a, chương trình 120, 160, các chương trình Mục tiêu quốc gia: Nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn, giảm nghèo, di dân tái định cư sạt lở, đê kè... Đây là chủ trương đúng đắn nhằm bảo đảm mục tiêu an sinh xã hội đối với vùng nghèo, khó khăn.

2.  Ý kiến, kiến nghị của cử tri

Liên quan đến chính sách bảo hiểm y tế tự nguyện, cử tri đề nghị Quốc hội, Bộ Y tế và các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định về bảo hiểm y tế  tự nguyện theo hướng cho người dân có quyền được chọn nơi khám chữa bệnh ban đầu gần nhất để đảm bảo thuận lợi cho việc khám chữa bệnh ban đầu của nhân dân.

Trả lời: (Công văn số 1045/BYT-VPB1 ngày 28/2/2013 của Bộ Y tế v/v trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri tại kỳ họp thứ Tư, Quốc hội khóa XIII)

1.  Theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế, người tham gia BHYT lựa chọn 1 cơ sở y tế để đăng ký khám chữa bệnh ban đầu sao cho thuận tiện với nơi công tác hay thường trú. Khi đi khám chữa bệnh đúng nơi đăng ký ban đầu thì sẽ được hưởng đầy đủ quyền lợi BHYT. Trường hợp cần chuyển tuyến, cơ sở y tế ban đầu sẽ chuyển người bệnh đến cơ sở tuyến trên phù hợp.

Việc đăng ký cơ sở khám chữa bệnh ban đầu và phải đến khám chữa bệnh tại cơ sở đăng ký (trừ trường hợp cấp cứu) là cần thiết và phù hợp vì:

-     Giúp cho việc quản lý các đối tượng người bệnh tại mỗi cơ sở.

-     Sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn lực của các cơ sở y tế tuyến dưới, thuận lợi cho người bệnh.

-     Duy trì tuyến điều trị, giảm tải cho các cơ sở khám chữa bệnh tuyến trên.

            Việc người tham gia BHYT không tuân thủ quy định, tự đi khám chữa bệnh ban đầu không đúng cơ sở đã đăng ký trên thẻ BHYT, vừa gây khó khăn cho cơ quan quản lý, vừa làm quá tải các bệnh viện tuyến trên.

            2. Đối với những trường hợp đi xa bị bệnh đột xuất, hiện nay được chia làm 02 trường hợp:

            - Trường hợp khám cấp cứu đột xuất khi đi xa: Người tham gia BHYT được hưởng quyền lợi như những trường hợp khám đúng tuyến.

            - Trường hợp đi khám bệnh không phải là cấp cứu: Người tham gia BHYT chỉ được hưởng quyền lợi khám chữa bệnh trái tuyến.

3.  Ý kiến, kiến nghị của cử tri

            Cử tri khu vực miền núi đề nghị Quốc hội, Bộ Nội vụ và các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu để có chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức công tác tại khu vực thị trấn huyện miền núi đặc biệt khó khăn được hưởng chế độ theo Nghị định số 116/NĐ-CP của Chính phủ hoặc xây dựng mức ưu đãi thấp hơn so với mức áp dụng đối với các xã đặc biệt khó khăn để đảm bảo sự công bằng khi thực hiện chính sách trong cùng một địa phương.

            Trả lời: (Công văn số 409/BNV-TL ngày 04/01/2013 của Bộ Nội vụ v/v trả lời kiến nghị của cử tri gửi tới kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII)

            Căn cứ quy định tại Khoản 2 Mục III Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với huyện nghèo thì chỉ các xã thuộc huyện nghèo được hưởng chính sách quy định đối với xã đặc biệt khó khăn. Theo đó, cán bộ, công chức, viên chức và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác tại các thị trấn thuộc các huyện nghèo không áp dụng chính sách đối với vùng đặc biệt khó khăn quy định tại Nghị định số 116/2010/NĐ-CP.

4.  Ý kiến, kiến nghị của cử tri

            Về chế độ chính sách đối với nạn nhân chất độc da cam/dioxin: Cử tri phản ánh, hiện nay có một một trường hợp tham gia công tác sau năm 1975 nhưng ở các vùng bị nhiễm chất độc da cam/dioxin, là nạn nhân bị phơi nhiễm nhưng không được hưởng chế độ; có trường hợp trong một gia đình con được hưởng chế độ nhưng bố không được hưởng hoặc bố được hưởng chế độ nhưng con bị dị tật lại không được hưởng chế độ... Vì vậy, cử tri đề nghị Trung ương Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan sớm có biện pháp giải quyết những khó khăn, vướng mắc, đồng thời hỗ trợ kinh phí để tổng điều tra nạn nhân chất độc da cam trên địa bàn các tỉnh, thành phố.

            Trả lời: (Công văn số 828/LĐTBXH-VP ngày 15/03/2013 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội v/v trả lời kiến nghị cử tri tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII, lĩnh vực NCC)

Thực hiện Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 của UBTVQH ngày 16/7/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã xây dựng và trình Chính phủ dự thảo Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số Điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng (Tờ trình số 77/TTr-LĐTBXH ngày 29/11/2012).

Sau khi Nghị định, Thông tư hướng dẫn được ban hành, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sẽ chỉ đạo các địa phương xem xét, xác nhận và giải quyết chế độ đối với người hoạt động kháng chiến và con đẻ bị nhiễm chất độc hóa học đơn giản, chặt chẽ và đúng đối tượng.

5.  Ý kiến, kiến nghị của cử tri

            Gần đây trên rất nhiều phương tiện thông tin đại chúng, trên Báo Vietnamnet, Báo Giáo dục Việt Nam và rất nhiều các cơ quan truyền thông đưa những bài viết rất đáng chú ý như: Ba bãi biển ở miền Bắc làm...  “hư” quý ông; Những thiên đường sung sướng ở miền Bắc hay bài viết Quất Lâm ký sự cho thấy những nơi kinh doanh mại dâm công khai, phổ biến, thậm chí trở thành tâm điểm thu hút khách du lịch, ở nhiều thành phố không thiếu những phố của gái hoạt động mại dâm, bây giờ thì hoạt động cả ban ngày. Tại sao Nhà nước ta mấy chục năm qua coi mại dâm là tệ nạn mà bỏ nhiều công sức, tiền bạc, bộ máy để phòng, chống mại dâm nhưng đến nay dường như không đạt kết quả gì. Theo Bộ trưởng có nên tiếp tục thực hiện chính sách đối với mại dâm như hiện nay không? Trách nhiệm cụ thể của Bộ trưởng và cả của Bộ Công an sắp tới là gì?

            Trả lời: (Công văn số 57/LĐTBXH-PCTNXH ngày 8/1/2013 của Bộ Lao động – Thương Binh và Xã hội v/v trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội khóa XIII)

Với chức năng, nhiệm vụ được giao là cơ quan chủ trì, giúp Chính phủ chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện pháp luật về phòng, chống mại dâm, trong những năm qua Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã chủ động tham mưu, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành và ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống mại dâm (02 Nghị định, 03 quyết định, 02 chỉ thị, 01 nghị quyết và trên 20 thông tư) tạo hành lang pháp lý cho công tác đấu tranh phòng, chống mại dâm; chỉ đạo việc tổ chức tuyên truyền trên diện rộng, có chiều sâu tạo sự chuyển biến về nhận thức và ý thức trách nhiệm phòng, chống tệ nạn mại dâm; xây dựng xã, phường, thị trấn lành mạnh (6.387 xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn không có tệ nạn xã hội).

Công tác thanh tra, kiểm tra, đấu tranh, triệt phá ổ nhóm, điều tra, truy tố, xét xử tội phạm mại dâm được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các bộ, ngành liên quan thực hiện một cách triệt để, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt đối với hành vi mại dâm với trẻ em. Kết quả từ năm 2006 – 2012, các lực lượng chức năng đã thanh tra, kiểm tra trên 250.000 lượt cơ sở kinh doanh dịch vụ; phát hiện xấp xỉ 100.000 cơ sở vi phạm, phạt tiền gần 50.000 lượt cơ sở, đình chỉ kinh doanh hơn 3.000 cơ sở, thu hồi giấy phép kinh doanh 1.100 cơ sở, tổng số tiền xử phạt hơn 120 tỉ đồng; từ năm 2006 – 2012, lực lượng công an các cấp đã truy quét, triệt phá 6.000 vụ hoạt động mại dâm. Một số địa phương đã triệt phá được nhiều đường dây, ổ nhóm mại dâm với quy mô lớn, tính chất hoạt động phức tạp như: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Cần Thơ, Tây Ninh, Đồng Tháp...

Công tác giáo dục, chữa trị, hỗ trợ hòa nhập cộng đồng cho người bán dâm cũng được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đặc biệt chú trọng chỉ đạo thực hiện. Hơn 5 năm qua, đã tổ chức chữa trị, giáo dục cho hơn 20.000 lượt người bán dâm; tổ chức dạy nghề, tư vấn giới thiệu việc làm cho gần 15.000 người, nhiều người đã ổn định cuộc sống.

Về cơ bản tệ nạn mại dâm đã được đẩy lùi, hạn chế được các tụ điểm công cộng (từ hơn 1.000 tụ điểm năm 2010 đến nay chỉ còn hơn 100 tụ điểm, rải rác ở một số tỉnh, thành phố trọng điểm); cơ bản kiềm chế được sự phát triển các loại hình hoạt động mại dâm mới.

Tuy nhiên, tệ nạn mại dâm đã và đang tồn tại mặc dù có sự đấu tranh quyết liệt song tội phạm tổ chức hoạt động mại dâm ngày càng tinh vi, với nhiều hình thức biến tướng, sử dụng công nghệ thông tin hiện đại, nên khó phát hiện để đấu tranh phòng, chống; mặt khác, trách nhiệm quản lý nhà nước của cấp chính quyền cơ sở, sự giám sát của các đoàn thể ở một số địa phương còn bị buông lỏng; việc cấp phép kinh doanh đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ nhạy cảm dễ phát sinh tệ nạn mại dâm còn nhiều bất cập do đó, kết quả công tác phòng, chống mại dâm còn hạn chế, vẫn tồn tại những hiện tượng như Đại biểu phản ánh.

Nhằm tăng cường hiệu quả công tác phòng, chống mại dâm trong thời gian tới, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sẽ tiếp tục tham mưu cho Chính phủ chỉ đạo thực hiện quyết liệt những giải pháp, biện pháp trong Chương trình hành động phòng, chống mại dâm giai đoạn 2011 – 2015 tại Quyết định số 679/QĐ-TTg ngày 10 tháng 5 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ, cụ thể:

-     Nhất quán quan điểm nghiêm cấm mại dâm dưới mọi hình thức, tệ nạn mại dâm phải được xã hội lên án, xóa bỏ và coi đây là nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết của các Bộ, ngành liên quan, đặc biệt là trách nhiệm của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Công an.

-     Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho các tầng lớp nhân dân về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phòng, chống mại dâm. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm phòng ngừa việc sử dụng các phương tiện thông tin trong hoạt động tổ chức mại dâm.

-     Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, triệt phá ổ nhóm hoạt động mại dâm: tổ chức nắm tình hình, điều tra cơ bản về địa bàn, đối tượng tổ chức hoạt động mại dâm; tổ chức đấu tranh các chuyên án về hoạt động mại dâm đặc biệt đối với các vụ án liên quan đến mại dâm trẻ em; nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ thực thi pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh chuyên án và điều tra, xét xử các vụ án liên quan đến mại dâm; tập huấn, đào tạo nâng cao năng lực về công tác thanh tra, kiểm tra cho thành viên của đội Kiểm tra liên ngành các cấp trong việc tổ chức kiểm tra hoạt động của các cơ sở kinh doanh dịch vụ...

-     Tăng cường các hoạt động phối hợp liên ngành, kiểm tra liên ngành giữa các Bộ, ngành Trung ương với các Ban chỉ đạo phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm các cấp. Đặc biệt là tăng cường kiểm soát việc cấp giấy phép hoạt động của các cơ sở kinh doanh dịch nhạy cảm dễ phát sinh tệ nạn mại dâm.

-     Xây dựng và nhân rộng các mô hình cơ sở hỗ trợ người bán dâm tái hòa nhập cộng đồng. Các cơ sở này có chức năng cung cấp các dịch vụ tư vấn tâm lý, pháp lý, hỗ trợ khám chữa bệnh lây truyền qua đường tình dục và bệnh AIDS, giáo dục kỹ năng sống, trợ giúp tái hòa nhập cộng đồng.

-     Nghiên cứu đề xuất các chính sách hỗ trợ cho người bán dâm hòa nhập cộng đồng như học nghề, vay vốn, tạo việc làm, hỗ trợ trong tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục...

-     Xây dựng xã, phường, thị trấn lành mạnh, không có tệ nạn mại dâm; phòng ngừa và giảm thiểu tác hại của tệ nạn mại dâm đối với đời sống xã hội và đào tạo, nâng cao năng lực cho cơ quan chuyên trách phòng, chống tệ nạn xã hội thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội trong việc tham mưu, điều phối công tác phòng, chống tệ nạn mại dâm ở địa phương.

-     Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống mại dâm; nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan (pháp luật hình sự, hành chính) đối với các hành vi mại dâm, liên quan đến mại dâm.

III.    Về lĩnh vực tư pháp – xây dựng pháp luật

1.      Ý kiến, kiến nghị của cử tri

                Nhà nước tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao nhận thức và hiểu biết pháp luật cho nhân dân. Đồng thời hỗ trợ phương tiện, kinh phí để Tòa án xét xử được nhiều vụ án hình sự tại các địa bàn dân cư.

            Trả lời: (Công văn số 2384/BTP-VP ngày 27/3/2013 của Bộ Tư pháp v/v trả lời kiến nghị của cử tri tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII)

- Trong thời gian qua, Bộ Tư pháp đã quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và các hình thức, biện pháp phổ biến, giáo dục pháp luật nói riêng; tham mưu giúp Chính phủ xây dựng, ban hành Đề án “Chỉ đạo điểm các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu quả trong giai đoạn hiện nay”. Từ việc triển khai hiệu quả, chất lượng thí điểm Đề án này, đến nay các mô hình đã được triển khai nhân rộng trên toàn quốc. Các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật quy định tại Điều 11 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật rất đa dạng, dễ áp dụng, có hiệu quả trên thực tế: Có những hình thức nhà nước, xã hội thực hiện trách nhiệm chủ động phổ biến, giáo dục pháp luật cho công dân, đáp ứng quyền của công dân được thông tin về pháp luật; đồng thời có những hình thức để người dân thực hiện quyền yêu cầu nhà nước, cung cấp thông tin pháp luật, chủ động tìm hiểu các vấn đề pháp luật cụ thể, nhà nước, xã hội có trách nhiệm đáp ứng các yêu cầu này của cá nhân (như hướng dẫn tìm hiểu pháp luật, cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật...)

            - Triển khai thực hiện Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp đã, đang và sẽ tiếp tục phối hợp chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc triển khai việc nhân rộng các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu quả. Bên cạnh đó, mỗi địa phương, mỗi ngành, mỗi cấp cần phát huy tính chủ động, sáng tạo phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, phong tục tập quán và nhu cầu tìm hiểu pháp luật của cán bộ, nhân dân sẽ đem lại hiệu quả thiết thực.

2.      Ý kiến, kiến nghị của cử tri

Cử tri ngành Tòa án cho rằng quy định chế độ phụ cấp phiên tòa như hiện nay là quá thấp, đề nghị Chính phủ xem xét điều chỉnh theo hướng: phụ cấp phiên tòa quy định là tỷ lệ phần trăm của lương tối thiểu, để khi lương tối thiểu thay đổi thì phụ cấp phiên tòa cũng được thay đổi cho phù hợp.

   Có phương án dành quỹ đất thích hợp ở vị trí thuận lợi để thực hiện đề án xây dựng trụ sở Tòa án nhân dân khu vực. Đồng thời nghành Tòa án tiếp tục được quản lý sử dụng trụ sở Tòa án cấp huyện cũ làm chi nhánh Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực.

            Trả lời: (Công văn số 50/TANDTC-TK ngày 20/3/2013 của Tòa án nhân dân tối cao v/v trả lời kiến nghị của cử tri Thanh Hóa)

·    Về việc hỗ trợ phương tiện, kinh phí phục vụ công tác xét xử:

- Về phương tiện làm việc: Hiện nay, TANDTC đang thực hiện Đề án mua sắm trang thiết bị làm việc cho các đơn vị dự toán trong toàn ngành (từ năm 2008 đến năm 2013). Với Đề án này, về cơ bản phương tiện làm việc của cán bộ, công chức ngành TAND đã được trang bị để đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu của công tác cải cách tư pháp và thực tế hiện nay, TANDTC đang tiếp tục xây dựng Đề án mua sắm trang thiết bị làm việc, phương tiện đi lại (ô tô) để trang bị phương tiện làm việc, đi lại cho các Tòa án.

- Về kinh phí để phục vụ công tác xét xử: Hàng năm, khi phân bổ kinh phí cho các đơn vị trong ngành TAND, TANDTC đặc biệt quan tâm tới kinh phí được Chính phủ giao cho ngành để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; cụ thể là: Kinh phí để xét xử và phục vụ cho công tác xét xử của các đơn vị. Do đó, ngoài định mức chi thường xuyên để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, TAND còn bố trí thêm kinh phí để hỗ trợ cho công tác xét xử của các Tòa án như: xét xử tại trụ sở Tòa án, xét xử lưu động và kinh phí để tập huấn nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ, công chức trong ngành, đặc biệt là tập huấn cho đội ngũ Thẩm phán và Thư ký Tòa án.

·    Về quỹ đất để thực hiện Đề án xây dựng trụ sở TAND sơ thẩm khu vực.

Xây dựng trụ sở TAND sơ thẩm khu vực là một trong các nhiệm vụ được đặt ra trước yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành TAND theo tinh thần cải cách tư pháp. Vì vậy, trong những năm gần đây các nhiệm vụ này đã luôn được Ban Cán sự Đảng, lãnh đạo TANDTC tập trung chỉ đạo các đơn vị chức năng thuộc TANDTC xây dựng các đề án, đề tài, chương trình, kế hoạch để trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, phê duyệt và tổ chức thực hiện để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Đồng thời, tại Chương trình làm việc số 06-CTr/TW ngày 15/3/2011 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2011 có giao cho Ban Cán sự Đảng TANDTC chủ trì xây dựng “Đề án tăng cường cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ cho ngành Tòa án nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới”. Đây là một Đề án mang tính tổng thể trong công tác xây dựng ngành Tòa án theo tinh thần cải cách tư pháp. Sau khi được Bộ Chính trị, Ban Bí thư phê duyệt, để thực hiện được Đề án này, TANDTC sẽ phải phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt các tiểu đề án, trong đó có tiểu đề án Quy hoạch tổng thể đầu tư xây dựng về trụ sở TAND các cấp đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030.

Đến nay, TANDTC đã hoàn thành Đề án tổng thể và định hướng cơ bản của các tiểu đề án, báo cáo Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương và đang lấy ý kiến các Bộ, ngành (Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội vụ, Ban Tổ chức Trung ương, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Ủy ban Tài chính và Ngân sách của Quốc hội) để báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

·    Về chế độ phụ cấp phiên tòa.

Hiện nay, chế độ bồi dưỡng phiên tòa đối với người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng tại phiên tòa được thực hiện theo Quyết định số 241/2006/QĐ-TTg ngày 25/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ. Xuất phát từ đặc thù hoạt động xét xử của Tòa án, điều kiện kinh tế hiện nay và để đảm bảo mối tương quan về chế độ, chính sách theo quy định của Nhà nước về chế độ tiền lương mới, TANDTC đã trình Thủ tướng Chính phủ xem xét sửa đổi, bổ sung chế độ bồi dưỡng phiên tòa. Trong quá trình đề nghị, TANDTC đề nghị Thủ tướng Chính phủ quy định mức phụ cấp phiên tòa theo tỷ lệ phần trăm của mức lương tối thiểu nhưng không được chấp nhận. Ngày 05/12/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 41/2012/QĐ-TTg về chế độ bồi dưỡng đối với người tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết việc dân sự; theo đó, mức bồi dưỡng phiên tòa đối với người tiến hành tố tụng được nâng từ 15.000 đồng lên 40.000 đồng/ngày xét xử.        

Trên đây là kết quả giải quyết và trả lời của các cơ quan chức năng về ý kiến, kiến nghị của cử tri Thanh Hoá gửi đến kỳ họp thứ 4, Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hoá tổng hợp báo cáo với cử tri trong toàn tỉnh./.

Số lần đọc: 3444

Các tin liên quan

Hình ảnh nổi bật»

Tin tiêu điểm
© TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ ĐOÀN ĐBQH VÀ HĐND TỈNH THANH HÓA
Cơ quan thường trực: Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Thanh Hóa. Trưởng Ban biên tập: Lê Văn Dũng - Chánh Văn phòng;
Phó trưởng Ban biên tập: Bùi Văn Lưỡng - Phó Chánh Văn phòng; Thư ký Ban biên tập: Lê Hùng Cường - Trưởng phòng Tổng hợp - Thông tin
Địa chỉ: 35 Đại lộ Lê Lợi, phường Lam Sơn, thành phố Thanh Hóa. Điện thoại: (0237) 3.852.255; Fax: (0237) 3.750.660; Email: banbientap@thanhhoadbnd.vn
® Bản quyền thuộc về Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa. Khi phát hành thông tin từ trang TTĐT Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh đề nghị ghi rõ nguồn: "thanhhoadbnd.vn".