Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Thanh Hóa

:

Trang thông tin sự kiện, những hoạt động của đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Thanh Hóa

Bình chọn»



loading...
Mở công cụ cấu hình. List 'CauHoiBinhChon' does not exist at site with URL 'http://thanhhoadbnd.vn'.

Tổng hợp kết quả giải quyết và trả lời của các Bộ, ngành Trung ương về những kiến nghị cử tri Thanh Hoá gửi đến kỳ họp thứ 6, QH khóa XIII  (23/04/2014 3:00:00 CH)

Thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri chuẩn bị nội dung cho kỳ họp thứ 6, Quốc hội khoá XIII, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hoá đã tổng hợp được 11 nhóm ý kiến, kiến nghị thuộc 3 lĩnh vực (kinh tế, văn hóa – xã hội, tư pháp - xây dựng pháp luật) của cử tri Thanh Hoá gửi đến các cơ quan chức năng của Quốc hội, Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương.

Tính đến 20/4/2014 đã có 9 cơ quan chức năng trả lời bằng văn bản về 10/11 nhóm ý kiến, kiến nghị mà cử tri nêu (gồm Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao). Kết quả giải quyết, trả lời cử tri của các cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền đã được đăng tải kịp thời trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương và trên website của Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh. Hiện còn 01 kiến nghị đang được xem xét giải quyết.

Sau đây là tổng hợp kết quả giải quyết và trả lời của các cơ quan chức năng:

I.      Lĩnh vực kinh tế

1.     Hiện nay, luồng tàu vào cảng Nghi Sơn đã bị bồi lắng, không đảm bảo cho tàu ra, vào cảng. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 55/TB-VPCP ngày 04/02/2013 của Văn phòng Chính phủ, UBND tỉnh Thanh Hóa đã chỉ đạo lập dự án đầu tư nạo vét luồng tàu vào cảng Nghi Sơn với tổng mức đầu tư khoảng 2.200 tỷ đồng. Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển máy móc, thiết bị phục vụ các dự án trọng điểm trong Khu kinh tế Nghi Sơn, đề nghị Chính phủ bố trí vốn trong kế hoạch 2014 – 2016 số tiền trên để UBND tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Bộ Giao thông Vận tải triển khai thực hiện dự án.

         Trả lời:  Tại văn bản số 1057/BKHĐT-TH ngày 26/02/2014 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi tới kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII

         Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 272/TB-VPCP ngày 30/7/2013 của Văn phòng Chính phủ, Bộ Giao thông Vận tải đã có văn bản số 13637/BGTVT-KCHT ngày 16/12/2013 báo cáo tình hình thực tế khai thác cảng Nghi Sơn trong thời gian qua và đề xuất Thủ tướng Chính phủ triển khai dự án nạo vét luồng tàu vào cảng Nghi Sơn theo hình thức xã hội hóa bằng phương thức tận thu sản phẩm không dùng vốn ngân sách nhà nước. Trên cơ sở đó, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã có văn bản số 101/VPCP-KTN ngày 07/01/2014 đề nghị thực hiện chủ trương thu hút đầu tư nạo vét các tuyến luồng vào cảng theo hình thức xã hội hóa, không sử dụng vốn ngân sách nhà nước, triển khai thực hiện dự án vào thời điểm phù hợp đảm bảo hiệu quả dự án.

2.     Tại Thông báo số 188/TB-VPCP ngày 12/7/2010 của Văn phòng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý kéo dài thời gian thực hiện Đề án phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng – an ninh miền Tây Thanh Hóa đến năm 2015 và Bộ Chính trị đã có Kết luận số 26-KL/TW ngày 02/8/2012 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 37–NQ/TW đến năm 2020. Đề nghị Quốc hội, Chính phủ quan tâm, bố trí vốn ngân sách Trung ương cho tỉnh Thanh Hóa tiếp tục thực hiện đề án trên.

         Trả lời: Tại văn bản số 1327/BKHĐT-TH ngày 07/3/2014 về việc giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi tới kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII

         Thực hiện Kết luận số 26-KL/TW ngày 02/8/2012 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 37/NQ-TW đến năm 2020 của Bộ Chính trị, Chính phủ trong 2 năm 2013 – 2014 đã tiếp tục cân đối nguồn lực để thực hiện hỗ trợ đầu tư trên địa bàn vùng miền Tây Thanh Hóa. Cụ thể như sau: Trong 3 năm 2012 – 2014 ngân sách Trung ương đã hỗ trợ có mục tiêu là 500,6 tỷ đồng, bao gồm: Kế hoạch năm 2012 là 160 tỷ đồng, kế hoạch năm 2013 là 168,2 tỷ đồng, kế hoạch năm 2014 là 172,4 tỷ đồng. Nguồn vốn này sẽ được tiếp tục thực hiện trong các năm tiếp theo căn cứ theo khả năng nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước và mức hỗ trợ được quy định tại Quyết định số 60/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí, nguyên tắc phân bổ nguồn vốn Ngân sách Nhà nước giai đoạn 2011 – 2015.

         Ngoài nguồn vốn hỗ trợ có mục tiêu từ Ngân sách Nhà nước, Chính phủ đã báo cáo Quốc hội thông qua nguồn lực từ nguồn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2011 – 2015 và giai đoạn 2014 – 2016 để đầu tư các dự án giao thông, thủy lợi trên địa bàn Tây Thanh Hóa, đặc biệt là các tuyến đường phía Tây trên địa bàn của tỉnh Thanh Hóa.

3.     Cơ chế hỗ trợ xây dựng nông thôn mới của nhà nước chưa rõ ràng, đề nghị quy định cụ thể tỷ lệ hỗ trợ xây dựng nông thôn mới của nhà nước để nhân dân được biết.

Trả lời:  Tại văn bản số 548/BNN-KTHT ngày 19/2/2014 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.

Ngày 08/6/2012, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 695/QĐ-TTg sửa đổi nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn từ ngân sách nhà nước (ngân sách trung ương và ngân sách cấp chính quyền địa phương tỉnh, huyện, xã) để thực hiện các nội dung xây dựng NTM trên địa bàn cấp xã, trong đó quy định:

- Đối với tất cả các xã, hỗ trợ 100% từ ngân sách nhà nước cho: Công tác quy hoạch; xây dựng trụ sở xã; kinh phí cho công tác đào tạo kiến thức về xây dựng NTM cho cán bộ xã, cán bộ thôn bản, cán bộ hợp tác xã.

- Đối với các xã thuộc huyện nghèo (theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ), hỗ trợ tối đa 100% từ ngân sách nhà nước cho: Xây dựng đường giao thông đến trung tâm xã, đường giao thông thôn, xóm; giao thông nội đồng và kênh mương nội đồng; xây dựng trường học đạt chuẩn; xây dựng trạm y tế xã; xây dựng nhà văn hoá xã, thôn, bản; công trình thể thao thôn, bản; xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt, thoát nước thải khu dân cư; phát triển sản xuất và dịch vụ; hạ tầng các khu sản xuất tập trung, tiểu thủ công nghiệp, thuỷ sản. Đối với các xã còn lại, hỗ trợ một phần từ ngân sách nhà nước cho các nội dung này.

HĐND cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ ngân sách nhà nước cho từng nội dung, công việc cụ thể, bảo đảm phù hợp với thực tế và yêu cầu hỗ trợ của từng địa phương.

          - Chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã) không quy định bắt buộc nhân dân đóng góp, chỉ vận động bằng các hình thức thích hợp để nhân dân tự nguyện đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương. Nhân dân trong xã bàn bạc mức tự đóng góp cụ thể của từng dự án, đề nghị HĐND xã thông qua.

          Hộ nghèo tham gia trực tiếp lao động để xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương được địa phương xem xét, trả thù lao theo mức phù hợp với mức tiền lương chung của thị trường lao động tại địa phương và khả năng cân đối ngân sách của địa phương. UBND địa phương xem xét, quyết định mức thù lao cụ thể sau khi trình thường trực HĐND cùng cấp. UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo, hướng dẫn các sở, ban, ngành, huyện, xã triển khai thực hiện.

4.     Cử tri vùng biển đề nghị hỗ trợ lãi suất, tăng mức đầu tư và thời hạn vay đối với việc mua sắm ngư lưới cụ, đóng mới và cải hoán tàu cá, hỗ trợ dầu và bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm thuyền viên giúp ngư dân bám biển làm kinh tế đồng thời bảo vệ chủ quyền Quốc gia biển đảo.

Trả lời: 

1. Về nghị hỗ trợ lãi suất, tăng mức đầu tư và thời hạn vay đối với việc mua sắm ngư lưới cụ, đóng mới và cải hoán tàu cá được Ngân hàng nhà nước Việt Nam trả lời tại văn bản số 670/NHNN-VP ngày 25/01/2013.

 Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến công tác đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn nhằm hỗ trợ sản xuất nông, lâm, thuỷ sản đảm bảo an sinh xã hội và giữ vững mục tiêu tăng trưởng. Đối với lĩnh vực đánh bắt thuỷ sản xa bờ, Chính phủ đã dành một số ưu đãi riêng đối với ngư dân, cụ thể: Quyết định số 393/1997/QĐ-TTg ngày 9/6/1997 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ vay vốn tín dụng để đóng mới tàu cá xa bờ; Quyết định 289/QĐ-TTg ngày 18/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo, hộ cận nghèo, ngư dân.

Tại Thông báo số 194/TB-VPCP ngày 22/8/2011 của Văn phòng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Quốc phòng và các Bộ ngành có liên quan nghiên cứu đề xuất chính sách hỗ trợ ngư dân mua tàu cá đóng mới, thay máy tàu cá có tổng công suất máy chính từ 90CV trở lên để thực hiện khai thác thuỷ sản trên các vùng biển.

Tháng 11/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định thực hiện thí điểm chính sách hỗ trợ ngư dân đóng tàu vỏ thép khai thác thuỷ sản xa bờ tại địa bàn được chọn, sau đó sẽ tổng kết, rút kinh nghiệm và xem xét khả năng nhân rộng ra các tỉnh ven biển khác trong đó có tỉnh Thanh Hoá.

Hỗ trợ ngư dân đánh bắt hải sản xa bờ là một chủ trương lớn của Chính phủ, có liên quan đến việc đầu tư vốn ngân sách do Bộ Tài chính phụ trách và công tác quản lý Nhà nước chuyên ngành Thuỷ sản thuộc chức năng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Ngân hàng nhà nước với chức năng quản lý vốn tín dụng ngân hàng đã và sẽ tích cực phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính, các bộ, ngành liên quan và các địa phương nghiên cứu và xây dựng các cơ chế, chính sách thúc đẩy hoạt động đánh bắt hải sản xa bờ nhằm cải thiện đời sống của ngư dân và tăng cường bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước.

2. Về nhà nước cần có nhiều chính sách hơn nữa đối với ngư dân bám biển, hỗ trợ dầu và bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm thuyền viên giúp ngư dân bám biển làm kinh tế đồng thời bảo vệ chủ quyền Quốc gia biển đảo được Bộ Nông nghiệp và PTNT trả lời tại văn bản số 337/BNN-TCTS ngày 27/01/2014, cụ thể:

Thời gan qua, Chính phủ đã ban hành một số chính sách hỗ trợ ngư dân như:

- Quyết định 289/QĐ-TTg ngày 18/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân, trong đó có hỗ trợ ngư dân mua mới, đóng mới tàu đánh bắt hải sản, hỗ trợ kinh phí bảo hiểm thân tàu và bảo hiểm tai nạn cho thuyền viên, hỗ trợ dầu, thời gian thực hiện từ năm 2008 đến năm 2010.

          - Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg ngày 13/7/2010 về một số chính sách khuyến khích hỗ trợ ngư dân khai thác, nuôi trồng hải sản và dịch vụ khai thác hải sản trên các vùng biển xa, trong đó có hỗ trợ kinh phí tiền dầu, kinh phí mua bảo hiểm, trang bị máy thông tin liên lạc cho các tàu cá và xây dựng trạm quan sát tại các địa phương.

          - Nghị quyết số 48/NQ-CP ngày 23/9/2009 của Chính phủ về cơ chế, chính sách giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản, Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010, Quyết định số 65/2011/QĐ-TTg ngày 02/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản, trong đó có hỗ trợ lãi suất vay cho việc đầu tư các trang thiết bị nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch, đóng mới tàu thu mua chế biến hải sản.

          - Quyết định 1787/QĐ-TTg ngày 29/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chính sách thí điểm ngư dân đóng tàu vỏ thép khai thác hải sản xa bờ tại Quảng Ngãi.

          - Chính sách hỗ trợ khắc phục rủi ro, thiên tai trên biển: Ngày 25/7/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 118/2007/QĐ-TTg về ban hành một số chính sách hỗ trợ rủi ro thiên tai trên biển đối với các tổ chức, cá nhân khai thác, nuôi trồng thủy sản và dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển, ven biển khắc phục rủi ro do thiên tai gây ra như: Hỗ trợ chi phí mua vé phương tiện về nơi cư trú đối với các trường hợp gặp rủi ro xa nơi cư trú; hỗ trợ các chi phí vận chuyển cấp cứu người từ biển vào đất liền; bảo quản xác nạn nhân; thông tin tìm kiếm người mất tích trên các phương tiện sản xuất bị chìm hoặc bị trôi dạt...

          - Chính sách hỗ trợ trang thiết bị thông tin và giám sát hoạt động của tàu cá trên biển:

+ Dự án thông tin giai đoạn I: Nhằm giảm thiệt hại đến mức thấp nhất cho ngư dân khi khác thác trên biển, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 459/QĐ-TTg về thực hiện thí điểm hỗ trợ máy thu trực canh cho ngư dân lắp đặt trên tàu cá. Hiện nay, đã hoàn thành giai đoạn thí điểm lắp đặt 7.000 máy thu trực canh cho ngư dân.

+ Dự án MOVIMAR (hỗ trợ thiết bị giám sát tàu cá): Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang tiến hành triển khai dự án này để gắn thiết bị (chíp) cho 3.000 tàu cá của ngư dân các thiết bị thu tín hiệu từ vệ tinh; các tàu cá được trang bị các thiết bị này sẽ nhận được thông tin dự báo thời tiết; dự báo ngư trường; tự động báo vị trí tàu về bờ 2 giờ/lần; các thông tin hướng dẫn tránh trú bão... đến nay đã có 1.944 tàu cá được lắp đặt thiết bị.

Những cơ chế, chính sách hỗ trợ ngư dân được ban hành và triển khai trong thời gian vừa qua đã mang lại những hiệu quả tích cực cho ngành Thủy sản, tạo điều kiện để ngư dân ổn định cuộc sống, bám biển khai thác và kết hợp với bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

Trong thời gian tới, thực hiện Quyết định 375/QĐ-TTg ngày 01/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Đề án tổ chức lại sản xuất trong khai thác hải sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang phối hợp với các đơn vị liên quan tiến hành xây dựng Dự án thông tin nghề cá giai đoạn II trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phối hợp với các Bộ Tài chính tiếp tục dự thảo trình Thủ tướng Chính phủ ban hành chính sách hỗ trợ ngư dân đóng mới, thay máy tàu cá hoạt động trên vùng khơi, vùng biển cả (Bộ Tài chính đã có Tờ trình số 717/TTr-BTC ngày 27/11/2012 và văn bản số 478/BTC-TCNH ngày 04/7/2013 gửi Thủ tướng Chính phủ).

II.   Lĩnh vực văn hóa -  xã hội

          1. Trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa hiện còn 2.128/9.040 phòng học, 752/1.998 nhà công vụ giáo viên chưa được bố trí vốn TPCP từ Chương trình kiên cố hóa trường lớp học và nhà công vụ giáo viên để triển khai thực hiện. Đề nghị Quốc hội, Chính phủ quan tâm tiếp tục bố trí vốn TPCP cho tỉnh để hoàn thành đầu tư số phòng học và nhà công vụ còn lại theo đề án đã được phê duyệt, đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất phục vụ dạy và học của giáo viên và học sinh.

          Trả lời: Tại văn bản số 964/BGDĐT-VP ngày 05/3/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc trả lời kiến nghị của cử tri gửi tới kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII

          Theo Quyết định số 2186/QĐ-TTg ngày 24/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phân bổ vốn thực hiện Đề án Kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008 – 2012, tổng số vốn thực hiện Đề án của tỉnh Thanh Hóa là 1.646,794 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn trái phiếu Chính phủ hỗ trợ là 1.317,435 tỷ đồng (tỉnh Thanh Hóa được hỗ trợ 80% vốn trái phiếu Chính phủ để thực hiện Đề án), ngân sách địa phương là 216,232 tỷ đồng và huy động khác là 113,127 tỷ đồng, với số phòng học đầu tư xây dựng giai đoạn 2008 – 2012 là 9.040 phòng và diện tích nhà công vụ là 125.184m2 (5.216 phòng).

          Số vốn trái phiếu Chính phủ đã phân bổ năm 2008 – 2013 cho tỉnh Thanh Hóa là 1.560,335 tỷ đồng (gồm cả 242,900 tỷ đồng kế hoạch vốn trái phiếu Chính phủ năm 2013 bổ sung hỗ trợ địa phương trả nợ khối lượng các công trình đã được đầu tư xây dựng theo Quyết định số 2086/QĐ-TTg ngày 27/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao kế hoạch vốn trái phiếu Chính phủ năm 2013).

          Theo báo cáo của UBND tỉnh Thanh Hóa, tỉnh đã triển khai đầu tư xây dựng 6.918 phòng học (đạt 76,5% kế hoạch cả giai đoạn) và 1.246 phòng nhà công vụ cho giáo viên (đạt 23,9% kế hoạch cả giai đoạn), với tổng số vốn đã huy động để đầu tư xây dựng là 1.655,909 tỷ đồng (bao gồm: vốn trái phiếu Chính phủ là 1.560,335 tỷ đồng, ngân sách địa phương là 62,872 tỷ đồng và huy động khác là 32,702 tỷ đồng). Số vốn trái phiếu Chính phủ hỗ trợ đã được phân bổ hết. Tuy nhiên, vốn ngân sách địa phương để thực hiện Đề án chỉ đạt 29,1% kế hoạch và huy động khác đạt 28,9% kế hoạch được giao theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

          Trong quá trình thực hiện Đề án, do biến động về giá nên tổng mức đầu tư Đề án tăng lên rất lớn và việc huy động nguồn vốn ngân sách địa phương còn hạn chế nên chưa đầu tư xây dựng hết được số phòng học và nhà công vụ theo kế hoạch.

          Hiện tại, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định triển khai Đề án Kiên cố hóa giai đoạn 2014 – 2017 và lộ trình đến năm 2020 với mục tiêu: Thực hiện đầu tư xây dựng hoàn thành danh mục công trình của Đề án Kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008 – 2012; Đầu tư xây mới cho đủ 1 lớp/phòng đối với trường tiểu học; đầu tư xây dựng mới để thay thế toàn bộ số phòng học bán kiên cố, phòng học tạm của các trường mầm non, phổ thông; đầu tư xây dựng mới các hạng mục công trình thuộc khu phụ vụ học tập: Phòng học bộ môn, phòng thiết bị, phòng hiệu bộ, phòng học đa năng, phòng thư viện, phòng y tế.

          Việc bổ sung danh mục, tiếp tục hỗ trợ kinh phí để thực hiện đầu tư xây dựng phòng học và nhà công vụ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổng hợp trong Đề án Kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2014 – 2017 và lộ trình đến năm 2020. Việc bố trí vốn theo đề nghị của cử tri phải chờ quyết định của Quốc hội sau khi Đề án được Chính phủ phê duyệt.

          2. Hiện nay, tỉnh Thanh Hóa còn 455 xã chưa có trạm y tế hoặc trạm y tế bị xuống cấp trầm trọng, không đảm bảo điều kiện khám, chữa bệnh cho nhân dân. Đề nghị Quốc hội, Chính phủ quan tâm, xem xét hỗ trợ đầu tư xây dựng các trạm y tế xã miền núi từ nguồn vốn Trung ương hỗ trợ có mục tiêu hoặc vốn TPCP để địa phương có thêm nguồn lực đầu tư.

         Trả lời: Tại văn bản số 746/BYT-VPB1 ngày 24/02/2014 của Bộ Y tế về việc trả lời kiến nghị của cử tri gửi tới kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII)

         Ngày 27/7/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 950/QĐ-TTg về đầu tư xây dựng trạm y tế xã thuộc vùng khó khăn giai đoạn 2008 – 2010, nhằm xây dựng trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia cho các xã hiện chưa có trạm y tế thuộc vùng khó khăn (theo danh mục quy định tại Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ), từ các nguồn vốn: Ngân sách Trung ương, nguồn vốn lồng ghép từ Chương trình 135 giai đoạn II và các chương trình liên quan khác, ngân sách địa phương và các nguồn vốn hợp pháp khác. Thực hiện Quyết định này, nhiều địa phương đã đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp trạm y tế xã.

          Hiện nay, Bộ Y tế đang xây dựng Đề án “Tăng cường y tế cơ sở và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh” để trình Bộ Chính trị trong năm 2014. Mục tiêu của Đề án là tăng cường năng lực cho trạm y tế xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế và y tế tuyến huyện, bao gồm cả nâng cấp, cải tạo cơ sở vật chất, trang thiết bị, đào tạo cán bộ và cung cấp thuốc thiết yếu.

          3. Đề nghị Chính phủ, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch sớm ban hành các văn bản quy định việc phân cấp quản lý, khai thác, bảo tồn các di tích lịch sử, văn hoá để có sự thống nhất trong công tác quản lý trên toàn quốc, tránh tình trạng mỗi địa phương quản lý theo một cách như hiện nay. Việc đầu tư cho các dự án bảo tồn các di tích lịch sử, văn hóa cần tập trung và thi công dứt điểm cho từng di tích, tránh dàn trải, thi công kéo dài làm ảnh hưởng tới chất lượng di tích và đời sống sinh hoạt của nhân dân.

          Trả lời: Tại văn bản số 807/BVHTTDL-VP ngày 18/3/2014 của Bộ Văn hoá, thể thao và du lịch.

          Ngày 18/9/2012 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 70/2012/NĐ-CP quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh. Điều 17 của Nghị định đã quy định Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch thẩm định dự án tu bổ di tích quốc gia đặc biệt, dự án tu bổ di tích quốc gia.

          Điều 27 Thông tư 18/2012/TT-BVHTTDL ngày 27/12/2012 của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích đã phân cấp một phần thẩm quyền xem xét, quyết định việc tu sửa cấp thiết di tích cho Chủ tịch UBND tỉnh/thành. Đồng thời, đội ngũ kiến trúc sư, những người làm công tác tu bổ di tích ở các địa phương còn rất mỏng, vì vậy Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch cần thẩm định việc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích cấp quốc gia để thực hiện tốt nguyên tắc "giữ gìn tối đa các yếu tố cấu thành di tích" như quy định tại Khoản 15, Điều 1 luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật di sản văn hoá.

III.       Về lĩnh vực tư pháp – xây dựng pháp luật

1. Hiện nay, có một thực trạng là luật pháp ban hành ra ngày càng nhiều nhưng đi song hành với nó là bệnh nhờn luật, việc luật không đi vào cuộc sống, có cử tri nói rằng "thà chưa có luật còn hay hơn là cứ ban hành luật ra để rồi luật không được thực hiện". Còn nhiều văn bản, nhiều điều, khoản chung chung chưa điều chỉnh những vấn đề bức thiết của cuộc sống, luật có rồi nhưng phải chờ nghị định, chờ thông tư hướng dẫn.

Trả lời: Tại văn bản số 490/BTP-VP ngày 21/02/2014 của Bộ Tư pháp về việc trả lời kiến nghị của cử tri tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII)

Trong những năm qua, công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) được Chính phủ, Thủ  tướng Chính phủ xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm ưu tiên hàng đầu và đã được các Bộ, cơ quan và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai quyết liệt, đạt được nhiều kết quả tích cực.

Thực hiện nhiệm vụ được giao, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Văn phòng Chính phủ thực hiện nhiều giải pháp để đôn đốc các Bộ, cơ quan đẩy nhanh tiến độ xây dựng văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh; thành lập Đoàn công tác liên ngành tiến hành kiểm tra tình hình xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ; hàng tháng, quý, 06 tháng Bộ Tư pháp đều có Báo cáo Chính phủ về tình hình xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết; thực hiện công khai tình hình soạn thảo, nợ đọng văn bản trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ... Công tác thẩm định VBQPPL đã có nhiều đổi mới trong quy trình, cách thức thẩm định, có đổi mới mang tính đột phá đã tạo được chuyển biến tích cực về chất lượng thẩm định...

Tuy nhiên, đúng như ý kiến của các cử tri đã nêu, trong thời gian qua, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác xây dựng pháp luật ở nước ta còn có một số bất cập, hạn chế, trong đó nổi lên như: Tình trạng chậm chễ và chưa bảo đảm chất lượng của các dự thảo luật, pháp lệnh do Chính phủ trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; chậm ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh; văn bản được ban hành không phù hợp với tình hình thực tế; hệ thống văn bản pháp luật chưa mang tính đồng bộ, ổn định...

Bộ Tư pháp nhận thấy, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trên là do:

Về khách quan:

- Trong thời gian qua, công việc đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, đặt ra yêu cầu cấp bách đối với công tác xây dựng pháp luật cả về mặt chất lượng và khối lượng công việc. Hàng năm, số lượng luật, pháp lệnh mà Quốc hội giao Chính phủ chủ trì soạn thảo là tương đối lớn, khoảng 90% tổng số các dự án luật, pháp lệnh trong Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội. Nhiều Bộ, ngành được giao chủ trì soạn thảo cùng lúc 2 – 3 dự án luật để trình Quốc hội trong một kỳ họp, tạo ra sức ép công việc rất lớn. Nội dung quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các luật, pháp lệnh nhiều, thường là các vấn đề mới, phức tạp, đòi hỏi phải quy định chi tiết nhiều điều khoản mới thi hành được. Việc này đòi hỏi đầu tư thời gian, công sức nghiên cứu kỹ lưỡng, thấu đáo, trong khi các Bộ chủ trì soạn thảo lại đồng thời phải thực hiện nhiệm vụ quản lý, điều hành công việc chuyên môn. Mặt khác, việc soạn thảo, trình, thông qua VBQPPL, nếu bảo đảm chặt chẽ, tuân thủ theo đúng quy trình cũng đòi hỏi không ít thời gian. Trong khi đó, việc giải thích pháp luật – biện pháp góp phần hạn chế ban hành văn bản quy định chi tiết – trong thời gian qua hầu như chưa được thực hiện.

- Đất nước ta đang trong quá trình chuyển đổi, nhiều quan hệ xã hội mới được định hình, tính ổn định chưa cao. Công tác xây dựng pháp luật ở nước ta mới được quan tâm thực hiện trong khoảng 20 – 25 năm nay. Bên cạnh đó, việc chuyển đổi tư duy pháp lý từ cơ chế bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường chưa được triệt để, trong khi đó ở một số trường hợp, pháp luật đòi hỏi cần phải đi trước để hình thành, tạo hành lang pháp lý thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ xã hội, nhưng điều kiện tổ chức thực hiện trên thực tế còn rất nhiều khó khăn.

Về chủ quan:

- Lãnh đạo một số Bộ, ngành chưa thực sự quyết liệt trong việc chỉ đạo công tác xây dựng VBQPPL nói chung và văn bản hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết nói riêng. Công tác phối hợp giữa các Bộ, ngành trong xây dựng, thẩm định VBQPPL cũng chưa chặt chẽ, hiệu quả.

- Đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng, thẩm định VBQPPL ở Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành còn thiếu về số lượng, năng lực chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn còn nhiều hạn chế, trong khi số lượng văn bản ban hành nhiều dẫn đến quá tải. Quy trình xây dựng VBQPPL, nhất là khâu dự báo, đánh giá tác động kinh tế - xã hội và lấy ý kiến tham vấn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan chưa được tuân thủ nghiêm.

Cách giải pháp thực hiện:

- Tham mưu giúp Chính phủ rà soát, lập kế hoạch, danh mục các VBQPPL cần xây dựng, sửa đổi, bổ sung bảo đảm phù hợp với Hiến pháp và tổ chức thực hiện.

- Triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 67/2013/QH13 ngày 29/11/2013 của Quốc hội về việc tăng cường công tác triển khai thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành và Quyết định số 73/QĐ-TTg ngày 13/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 67/2013/QH13.

- Phối hợp với Bộ Nội vụ hoàn thiện dự thảo Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành Nghị định số 55/2011/NĐ-CP của Chính phủ. Tổ chức bàn giao và triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ đã được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 921/QĐ-TTg về việc chuyển giao trách nhiệm theo dõi tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh từ Văn phòng Chính phủ sang Bộ Tư pháp thực hiện, kể từ ngày 01/7/2013.

- Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng, thẩm định VBQPPL. Bổ sung hợp lý số lượng cán bộ, công chức làm công tác thẩm định; tăng cường tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực phân tích, xây dựng chính sách pháp luật và kỹ năng soạn thảo, thẩm định văn bản pháp luật cho những người làm công tác xây dựng pháp luật, bao gồm cả cán bộ, công chức pháp chế các Bộ, ngành.

- Có biện pháp thu hút sự tham gia của nhân dân, huy động trí tuệ của chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý, sự phản biện từ các tổ chức xã hội, từ các phương tiện thông tin đại chúng... vào quá trình xây dựng, thẩm định VBQPPL; cải tiến, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác phối hợp giữa các Bộ, ngành và giữa các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp trong việc xây dựng, thẩm định VBQPPL.

- Tăng cường công tác kiểm tra VBQPPL, kết hợp kiểm tra VBQPPL với công tác theo dõi thi hành pháp luật, kiểm soát thủ tục hành chính nhằm phát hiện kịp thời các văn bản có sai phạm chưa phù hợp với yêu cầu xã hội để có kiến nghị khắc phục kịp thời.

- Về lâu dài, để nâng cao chất lượng VBQPPL một cách căn cơ hơn, Quốc hội đã giao cho Chính phủ nghiên cứu xây dựng Luật Ban hành VBQPPL (hợp nhất), với định hướng làm cho quy trình xây dựng pháp luật dân chủ hơn, minh bạch hơn, chuyên nghiệp hơn, trách nhiệm giải trình cao hơn. Đồng thời, nghiên cứu bổ sung vai trò giải thích pháp luật của Tòa án nhân dân; vai trò xây dựng án lệ của Tòa án nhân dân tối cao, qua đó sẽ góp phần hạn chế ban hành thông tư, thông tư liên tịch quá nhiều như hiện nay.

- Trong quá trình triển khai thực hiện Nghị định số 59/2012/NĐ-CP, Bộ Tư pháp đã xây dựng xong dự thảo Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP, tổ chức lấy ý kiến các Bộ, ngành và địa phương, hiện đang chỉnh lý, hoàn thiện để ban hành trong thời gian tới.

2. Đề nghị Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương nghiên cứu ban hành các Nghị quyết, Thông tư liên tịch để hướng dẫn cho các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng luật một cách thống nhất. Tránh việc vận dụng, thậm chí lạm dụng pháp luật.

Trả lời: Tại văn bản số 88/TANDTC-VKHXX ngày 07/3/2014 của Toà án nhân dân tối cao.

Trong những năm qua, Toà án nhân dân tối cao (TANDTC) và các bộ, ngành rất quan tâm đến công tác hướng dẫn áp dụng pháp luật. Năm 2012 và 2013, Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã ban hành được 07 Nghị quyết; phối hợp với các bộ, ngành hữu quan ban hành được trên 20 thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một số quy định của văn bản pháp luật thuộc trách nhiệm hướng dẫn của TANDTC và các bộ, ngành chưa ban hành được văn bản hướng dẫn. TANDTC đang khẩn trương chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành xây dựng văn bản hướng dẫn để áp dụng thống nhất văn bản pháp luật.

          Trên đây là những ý kiến, kiến nghị của cử tri tỉnh Thanh Hóa được các Bộ, ngành Trung ương trả lời. Đoàn ĐBQH Thanh Hóa tổng hợp báo cáo cử tri./.

Số lần đọc: 3050

Các tin liên quan

Hình ảnh nổi bật»

Tin tiêu điểm
© TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ ĐOÀN ĐBQH VÀ HĐND TỈNH THANH HÓA
Cơ quan thường trực: Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Thanh Hóa. Trưởng Ban biên tập: Lê Văn Dũng - Chánh Văn phòng;
Phó trưởng Ban biên tập: Bùi Văn Lưỡng - Phó Chánh Văn phòng; Thư ký Ban biên tập: Lê Hùng Cường - Trưởng phòng Tổng hợp - Thông tin
Địa chỉ: 35 Đại lộ Lê Lợi, phường Lam Sơn, thành phố Thanh Hóa. Điện thoại: (0237) 3.852.255; Fax: (0237) 3.750.660; Email: banbientap@thanhhoadbnd.vn
® Bản quyền thuộc về Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa. Khi phát hành thông tin từ trang TTĐT Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh đề nghị ghi rõ nguồn: "thanhhoadbnd.vn".