Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Thanh Hóa

:

Trang thông tin sự kiện, những hoạt động của đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Thanh Hóa

Bình chọn»



loading...
Mở công cụ cấu hình. List 'CauHoiBinhChon' does not exist at site with URL 'http://thanhhoadbnd.vn'.

Tóm tắt tổng hợp kết quả trả lời của các Bộ, Ngành Trung ương về những kiến nghị cử tri Thanh Hoá gửi đến kỳ họp thứ 2, QH khóa XIII  (10/05/2012 4:00:00 CH)

Thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri chuẩn bị nội dung cho kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XIII. Ngày 05/10/2011, Đoàn đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tỉnh Thanh Hoá đã tổng hợp 18 nhóm ý kiến, kiến nghị của cử tri Thanh Hoá gửi đến Quốc hội, Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương (01 kiến nghị thuộc trách nhiệm giải quyết trả lời của Quốc hội; 17 kiến nghị thuộc trách nhiệm giải quyết trả lời của các Bộ, ngành Trung ương). Ngoài ra thông qua hoạt động giám sát, tiếp công dân, tiếp xúc cử tri theo chuyên đề..., Đoàn đã tổng hợp 02 kiến nghị (01 ý kiến, kiến nghị thuộc trách nhiệm giải quyết của Thủ tướng Chính phủ, 01 ý kiến thuộc trách nhiệm giải quyết của Bộ Công an). Tính đến 03/5/2012 đã có 11 cơ quan chức năng trả lời bằng văn bản 20/20 vấn đề mà cử tri và Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hoá có ý kiến, kiến nghị (gồm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp &PTNT, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Nội vụ, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Giao thông Vận tải và Bộ Công an). Đoàn ĐBQH tỉnh tổng hợp tóm tắt kết quả trả lời của các Bộ, ngành Trung ương về những ý kiến, kiến nghị của cử tri Thanh Hoá gửi đến kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XIII như sau:

I. ĐỐI VỚI QUỐC HỘI:
 
1. Ý kiến, kiến nghị của cử tri.
 
    Cử tri đề nghị Quốc hội nghiên cứu, sửa đổi toàn diện Luật đất đai; sửa đổi một số điều của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong đó quy định cụ thể về cơ chế giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; sửa đổi toàn diện Bộ Luật Hình sự cho phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm; sửa đổi, bổ sung Bộ Luật tố tụng hình sự; sửa đổi Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân; sửa đổi Luật bồi thường nhà nước; nâng Pháp lệnh điều tra hình sự thành Luật tổ chức các cơ quan điều tra.
 
    2. Trả lời của Quốc hội (Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội):
 
    Đối với các Luật: Luật Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức HĐND và UBND, Luật hoạt động giám sát Quốc hội… đây là những Luật liên quan đến bộ máy tổ chức và có mối quan hệ chặt chẽ với các quy định của Hiến pháp 1992. Tuy nhiên, trong thời điểm hiện nay, các cơ quan chức năng đang tiến hành tổng kết và tổ chức nghiên cứu việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992. Do đó, các dự luật này đã được đưa vào Chương trình chính thức của nhiệm kỳ Quốc hội khoá XIII để chuẩn bị đồng thời với việc nghiên cứu, sửa đổi Hiến pháp và sẽ trình Quốc hội xem xét, thông qua khi Hiến pháp được sửa đổi, bổ sung để đảm bảo tính hợp Hiến và tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
 
    Tại kỳ họp thứ 3 tới đây, ngoài việc bổ sung một số quy định của Bộ Luật hình sự (năm 1999), Quốc hội sẽ xem xét, thông qua dự án Luật xử lý vi phạm hành chính, trong đó quy định khá chi tiết, cụ thể về các hành vi vi phạm và mức xử phạt tương đối nghiêm khắc trong các lĩnh vực, qua đó có tác dụng răn đe, giáo dục và định hướng các hành vi trong xã hội.
 
    - Đối với các Luật còn lại: Uỷ ban Pháp luật nhận thấy, kiến nghị của cử tri là hoàn toàn chính đáng. Uỷ ban Pháp luật sẽ báo cáo Uỷ ban Thường vụ Quốc hội,   nghiên cứu, xem xét đưa vào chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh của Quốc hội trong thời gian tới.
 

 

 
 
 

 

 
 
 
II. ĐỐI VỚI CHÍNH PHỦ.
 
1. Ý kiến, kiến nghị của cử tri.
 
Việc thi công Quốc lộ 47 đoạn từ Thành phố Thanh Hóa đi Thị xã Sầm Sơn (Đoạn km0-15) tiến độ chậm. Tổng mức đầu tư của Dự án 923 tỷ đồng, dự án được khởi công từ tháng 12/2009, dự kiến hoàn thành tháng 02/2012. Trong khi chính quyền địa phương và các nhà thầu đang tích cực triển khai như: đã cơ bản hoàn thành giải phóng mặt bằng, thi công xong cầu, hệ thống cống thoát nước và đang thi công mặt đường thì đến tháng 3/2011, Bộ Giao thông vận tải có chủ trương giản tiến độ đầu tư. Từ đó đến nay do thiếu vốn các nhà thầu phải ngừng thi công trên toàn tuyên, dẫn đến việc đi lại của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn, nhiều tai nạn thương tâm đã xảy ra, đây là con đường duy nhất đến Thị xã Sầm Sơn là khu du lịch trọng điểm quốc gia. Đề nghị Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan hữu quan của Chính phủ sớm cho đẩy nhanh tiến độ hoàn thành sớm công trình trước mùa Du lịch Biển năm 2012.
 
2. Trả lời của Thủ tướng Chính phủ:
 
Ngày 26/12/2011, Văn phòng Chính phủ đã có văn bản số 9162/VPCP-TH thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, cụ thể: Giao Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu, trả lời Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa và báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước tháng 02 năm 2012”.
 
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ giao thông vận tải đã có Công văn số 8963/BGTVT-CQLXD ngày 30/12/2011 trả lời vấn đề trên như sau:
 
Dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 47 đoạn từ Thành phố Thanh Hóa đi Thị xã Sầm Sơn (Đoạn km0-15) được đầu tư tại Quyết định số 1148/QĐ-BGTVT ngày 6/5/2009 và giao cho Sở Giao thông vận tải Thanh Hóa là chủ đầu tư. Bộ Giao thông vận tải xác định đây là tuyến đường quan trọng, cần sớm hoàn thành để phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa, trong đó có việc đáp ứng nhu cầu đi lại tăng cao vào mùa Du lịch Biển ở Sầm Sơn. Lãnh đạo Bộ đã có nhiều lần kiểm tra hiện trường giải quyết các vấn đề phát sinh, chỉ đạo Chủ đầu tư và các đơn vị có liên quan tập trung lực lượng để thi công.
 
Thời gian qua, yếu tố lớn nhất ảnh hưởng đến tiến độ thi công dự án là vốn. Trong tình hình chung vốn bố trí cho các dự án giao thông trong năm 2010 và 2011 không đáp ứng yêu cầu tiến độ; Bộ đã phối hợp chặt chẽ với tỉnh để cùng giải quyết: Bộ GTVT cân đối bố trí vốn cho dự án từ nguồn Trái phiếu Chính phủ và UBND tỉnh Thanh Hóa tạm ứng kinh phí chi trả giải phóng mặt bằng.
 
Từ năm 2011, tiến độ thi công dự án có chậm lại do ảnh hưởng của việc cắt giảm đầu tư công theo Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/2/2011. Vừa qua, khi xây dựng kế hoạch vốn năm 2012 Bộ GTVT đã có văn bản số 8686/BGTVT-KHĐT ngày 21/12/2011 gửi Bộ KHĐT, trong đó đã cân đối bố trí kế hoạch vốn để tiếp tục thi công dự án này. Hiện nay, Bộ GTVT đang chủ động và tích cực làm việc với các Bộ, ngành liên quan tìm giải pháp tháo gỡ khó khăn về vốn, tạo điều kiện cho việc hoàn thành dự án đáp ứng tiến độ yêu cầu.
 

 

 
 
 

 

 
III. ĐỐI VỚI BỘ KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ.
1. Ý kiến, kiến nghị của cử tri:
1.1- Để tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực miền núi phía Tây của tỉnh phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh; trong thời gian tới, đề nghị Quốc hội, chính phủ xem xét hỗ trợ vốn để đẩy nhanh tiến độ thực hiện Dự án đường Hồi Xuân - Tén Tần dài 112 km, tổng mức đầu tư 1.400 tỷ đồng, là tuyến đường quan trọng, kết nối với huyện Mường Lát; dự án đã được đầu tư từ năm 2009 nhưng đến nay mới bố trí được 20% nhu cầu vốn;
1.2- Xem xét hỗ trợ vốn để tỉnh thực hiện Dự án đầu tư xây dựng hệ thống cầu treo và đường tràn của các huyện miền núi, để đảm bảo an toàn cho đồng bào dân tộc khu vực miền Tây trong mùa mưa lũ. Tỉnh đã lập dự án, song do điều kiện khó khăn, chưa cân đối được nguồn vốn (khoảng 200 tỷ đồng) để triển khai thực hiện.
    1.3- Cửa khẩu quốc tế Na Mèo, huyện Quan Sơn được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong quy hoạch phát triển các khu kinh tế cửa khẩu của Việt Nam đến năm 2020 (QĐ số 52/2008/QĐ-TTg ngày 25/4/2008) trong đó xác định đến năm 2012 sẽ đi vào hoạt động. Tuy nhiên, đến nay cửa khẩu quốc tế Na Mèo chưa được đầu tư; đề nghị Chính phủ quan tâm, hỗ trợ đầu tư các hạ tầng thiết yếu để sớm hình thành Khu kinh tế cửa khẩu Na Mèo; đồng thời, đề nghị bổ sung vào quy hoạch phát triển các khu kinh tế cửa khẩu của Việt Nam đến năm 2020 gồm: Cửa khẩu Tén Tần (Mường Lát), cửa khẩu Khẹo (Thường Xuân) tạo điều kiện thúc đẩy phát triển KTXH của vùng và giao thương với nước bạn Lào.
    1.4- Hiện nay, Thanh Hoá còn 492 trạm y tế xã chưa đầu tư, trong đó 123 trạm y tế trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng, không đảm bảo điều kiện làm việc, nên việc đầu tư cho các trạm y tế này là rất cấp bách. Do khó khăn về nguồn vốn, đề nghị Chính phủ quan tâm bố trí vốn hỗ trợ để Tỉnh triển khai thực hiện, với nguồn kinh phí khoảng 100 tỷ đồng.   
2. Trả lời của Bộ Kế hoạch Đầu tư:
2.1- Đối với Dự án đường Hồi Xuân - Tén Tần. Dự án được đầu tư bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ; thực hiện Chỉ thị 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tường Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá chịu trách nhiệm rà soát và xác định danh mục dự án và đăng ký mức vốn đầu tư cho các dự án trong tổng số vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2012-2015 được thông báo (3.532,096 tỷ đồng). Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ phối hợp với UBND tỉnh Thanh Hoá tiến hành rà soát các dự án đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định trong đó có dự án đường hồi Xuân – Tén Tần.
2.2- Về hỗ trợ vốn để tỉnh thực hiện Dự án đầu tư xây dựng hệ thống cầu treo và đường tràn của các huyện miền núi: Đây là việc làm cần thiết nhằm đảm bảo an toàn cho đồng bào dân tộc khu vực miền Tây của tỉnh trong mùa mưa lũ. Theo quy định hiện hành, việc bố trí vốn đầu tư các công trình này thuộc nguồn vốn do địa phương chịu trách nhiệm bố trí vốn trong tổng nguồn vốn đã phân cấp. Hiện nay nguồn vốn bổ sung có mục tiêu từ ngân sách nhà nước có thể sử dụng để đầu tư các cầu treo gồm: Vốn đầu tư Nghị quyết 30a, vốn đầu tư phát triển vùng theo các Nghị quyết của Bộ Chính trị, vốn chương trình mục tiêu quốc gia nông thôn mới, chương trình 135, vốn cân đối ngân sách địa phương, … tổng nguồn vốn hàng năm khoảng 1.500 tỷ đồng, việc phân bổ các nguồn vốn này ưu tiên cho các mục tiêu đầu tư hạ tầng phát triển kinh tế - xã hội; giao thông, thuỷ lợi, y tế, giáo dục, … thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh Thanh Hoá.
2.3- Về khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Na Mèo, huyện Quan Sơn đã được Thủ tướng Chính phủ nhất trí về nguyên tắc cho phép thành lập trong giai đoạn từ 2008-2015. Tuy nhiên, hiện tại tỉnh Thanh Hoá chưa đề xuất và làm các thủ tục có liên quan để thành lập khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Na Mèo. Hàng năm, Nhà nước dành nguồn vốn bổ sung có mục tiêu phát triển cơ sở hạ tầng khu kinh tế cửa khẩu, do Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Na Mèo chưa được thành lập nên không thuộc đối tượng được hưởng đâu tư từ nguồn trên.
Về đề nghị bổ sung khu kinh tế cửa khẩu Tén Tằn và Khẹo vào Quyết định số 52/2008/QĐ-TTg cần phải được nghiên cứu kỹ càng thận trọng với lý do trong bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bế mạc hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI đã nêu “Khắc phục tình trạng phát triển quá nhiều các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khai thác quá mức tài nguyên, khoáng sản mà chưa tính toán đầy đủ khả năng thu hút các doanh nghiệp vào đầu tư, hiệu quả kinh tế - xã hội và tác động đến môi trường”.
2.4- Về việc đầu tư 492 trạm y tế xã, trong đó 123 trạm y tế trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng, không đảm bảo điều kiện làm việc nên việc đầu tư cho các trạm y tế là cần thiết. Theo quy định hiện hành, việc bố trí vốn đầu tư cho các trạm y tế thuộc nguồn vốn do địa phương chịu trách nhiệm bố trí vốn trong tổng nguồn vốn đã phân cấp.

 

 
 
 


IV. ĐỐI VỚI BỘ CÔNG THƯƠNG.
1. Ý kiến, kiến nghị của cử tri:
Cử tri kiến nghị việc triển khai thực hiện dự án thuỷ điện Hồi Xuân và đặc biệt là dự án thuỷ điện Trung Sơn rất chậm (đã 6 năm nhưng chưa triển khai) ảnh hưởng rất nhiều các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng theo Nghị quyết 30a của Chính phủ và các dự án đầu tư khác cho các xã, các bản thuộc vùng ảnh hưởng của lòng hồ. Mặt khác, chính sách đền bù tài sản thiệt hại của nhân dân quá thấp so với giá cả thị trường và so với các dự án khác (như dự án thuỷ điện Sơn La).
2. Trả lời của Bộ Công thương:
    2.1- Về dự án Thuỷ điện Trung Sơn: Theo quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia giai đoạn 2006-2015, dự án sẽ được vận hành phát điện vào năm 2012, Tập đoàn Điện lực Việt Nam làm Chủ đầu tư. Tuy nhiên, dự án thực hiện chậm nhiều năm do vấn đề đáp ứng các yêu cầu của nhà tài trợ (Ngân hàng Thế giới – WB) để thu xếp vốn. Đây là dự án thuỷ điện đầu tiên do WB tài trợ vốn, do đó cần phải thực hiện các thủ tục theo yêu cầu và tiêu chuẩn của WB. Ngày 28/6/2001, Hiệp định vay vốn giữa Chính phủ Việt Nam và WB được ký chính thức và đến tháng 9/2011 mới ký Hợp đồng vay vốn của Dự án. Theo Quyết định số 1208/QĐ-TTg ngày 21/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030, thuỷ điện Trung Sơn được điều chỉnh và sẽ phát điện vào năm 2016. Theo tiến độ phê duyệt, dự án thi công xây dựng trong 5 năm và phát điện tổ máy 1 vào tháng 11/2016 và phát điện các tổ máy còn lại và bàn giao công trình Quý II/2017. Hiện nay, tập đoàn điện lực Việt Nam đã và đang triển khai thực hiện xây dựng các hạng mục phụ trợ như đường thi công vận hành, nhà làm việc, công tác đền bù giải phóng mặt bằng… để phục vụ cho việc khởi công công trình vào tháng 7/2012.
    2.2- Về chính sách đền bù tài sản thiệt hại của các hộ dân trong vùng dự án.
    Dự án thuỷ điện Trung Sơn ngoài việc thực hiện các chính sách đền bù tài sản thiệt hại của các hộ dân bị ảnh hưởng theo quy định của Việt Nam (theo khung chính sách tại Quyết định 442/QĐ-TTg ngày 27/3/2009) thì người dân bị ảnh hưởng trong vùng dự án được hưởng một số chính sách hỗ trợ theo yêu cầu của nhà tài trợ WB như: Chính sách về xã hội, sinh kế cộng đồng; hỗ trợ ổn định đời sống; hỗ trợ sản xuất …vv và đây được xem là dự án có chính sách hỗ trợ cao hơn so với các dự án khác trong khu vực.
    2.3- Về dự án thuỷ điện Hồi Xuân: Công xuất lắp máy thiết kế 102 MW. Theo quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia giai đoạn 2006-2015, dự án sẽ vận hành phát điện vào năm 2013; Chủ dự án là Công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng điện Hồi Xuân VNECO. Thiết kế cơ sở được bộ Công thương thẩm định tháng 5/2008. Tuy nhiên, dự án thực hiện chậm do khó khăn về thu xếp vốn. Đến nay, dự án đã được Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc chấp thuận cung cấp tín dụng và đang đàm phán Hợp đồng vay vốn và đàm phán cung cấp thiết bị cơ điện cho nhà máy. Dự án đã triển khai thi công từ tháng 3/2011, đang xây dựng đường, công trình phù trợ, đào hố móng công trình chính, đền bù… nhằm mục tiêu phát điện năm 2014 (dự án này được điều chỉnh tiến độ phát điện năm 2016).

 
 
 


V. ĐỐI VỚI BỘ NỒNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN.
1.    Ý kiến, kiến nghị của cử tri:
1.1- Để tạo điều kiện cho nhân dân phát triển sản xuất xoá đói, giảm nghèo, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống rút ngắn khoảng cách giữa các vùng miền, đề nghị Chính phủ tiếp tục ưu tiên đầu tư thoả đáng, kịp thời cho chương trình xây dựng nông thôn mới theo tinh thần Nghị Quyết Trung ương 7 (khoá X), nhất là các dự án, chính sách, xây dựng cơ sở hạ tầng, đường giao thông, các công trình thuỷ lợi, giống cây trồng, sức cày kéo, phân bón, chính sách hỗ trợ đặc thù đối với vùng sản xuất lúa đảm bảo cho chiến lược an ninh lương thực quốc gia, có giải pháp tiêu thụ nông sản … cho nông thôn vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn, nhằm từng bước nâng cao đời sống người dân ở khu vực nông thôn, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa nông thôn và thành thị.
1.2- Chính phủ tăng cường chính sách về nông nghiệp - nông dân - nông thôn để hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn.
1.3- Tình trạng giá cả đầu vào cho sản xuất nông nghiệp như điện, nước, giống, thức ăn chăn nuôi… ngày càng tăng cao, gây khó khăn cho đời sống của người dân khu vực nông thôn. Đề nghị Chính phủ tiếp tục tăng cường trợ giá điện, nước, thuốc trừ sâu...; giảm thuế đối với vật tư đầu vào như thức ăn chăn nuôi, cây, con giống…, tìm đầu ra tiêu thụ hàng hoá và phải có biện pháp quản lý giá vật tư nông nghiệp chặt chẽ hơn nhằm bình ổn giá, để người dân yên tâm sản xuất.
2. Trả lời của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn:
    2.1- Về tạo điều kiện cho nhân dân phát triển sản xuất xoá đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống rút ngắn khoảng cách giữa các vùng miền.
    - Trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn nhiều khó khăn nhưng đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn vẫn được ưu tiên. Trong 3 năm (2009-2011) Chính phủ tăng đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn với số vốn là 286.213 tỷ đồng bằng 52,3% tổng số vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ của cả nước. Ngoài ra, hàng năm nhà nước còn chi 7.000-8.000 tỷ đồng từ dự phòng NSTW hỗ trợ các địa phương khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt, dịch bệnh…; khoảng 2.000 tỷ đồng hỗ trợ nông dân thông qua chính sách miễn giảm thuế nông nghiệp và khoảng 8.000 tỷ đồng vốn sổ số kiến thiết hàng năm được ưu tiên tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội phục vụ sản xuất nông nghiệp, nông thôn. Về tín dụng dành cho nông nghiệp, nông thôn vẫn được ưu tiên mặc dù Chính phủ đang hạn chế tăng trưởng tín dụng để khống chế lạm phát. Tính đến 31/12/2011, dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn cả nước đạt 447,492 nghìn tỷ đồng chiếm 20% tỷ trọng so với cho vay nền kinh tế. Về chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Chính phủ và các địa phương đã quan tâm đầu tư nguồn lực để thực hiện các nội dung của chương trình, trong đó ngân sách Trung ương hỗ trợ năm 2011 là 1.600 tỷ đồng; năm 2012 là 1.700 tỷ đồng cho các tỉnh chưa cân đối được ngân sách.
    - Về triển khai thực hiện các dự án chính sách cho nông thôn: Nhằm đưa Nghị quyết Trung ương 7 vào đời sống, các Bộ, ban, ngành đã trình Chính phủ ban hành các chính sách, giải pháp để triển khai thực hiện gồm: Chính sách về xây dựng cơ sở hạ tầng, đường giao thông, các công trình thuỷ lợi; chính sách hỗ trợ sản xuất, xoá đói giảm nghèo; chính sách nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực; chính sách về hỗ trợ đặc thù với vùng sản xuất lúa đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; Giải pháp tiêu thụ nông sản cho nông thôn, vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn; chính sách về tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
    2.2- Về Chính phủ tăng cường chính sách về nông nghiệp - nông dân - nông thôn để hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, cải thiện đời sống.
    a, Ngay sau khi có Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn được ban hành, Chính phủ đã khẩn trương ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 45 chương trình, đề án. Đến nay nhiều chương trình đề án, chính sách sau khi ban hành đã được triển khai, đi vào cuộc sống và được người dân, các cấp chính quyền địa phương hoan nghênh và tích cực triển khai thực hiện có hiệu quả.
    b, Về tăng cường chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, cải thiện đời sống:
    - Để nâng cao mức sống của nhân dân, chính phủ đã trọng tâm vào công tác giảm nghèo, đẩy mạnh phát triển KT-XH, trước hết là khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời thúc đẩy phát triển sản xuất nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn như: Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008; Nghị Quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011; Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04/6/2010; Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010; Nghị định 02/2010/NĐ-CP ngày 08/01/2010; Quyết định 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 về thí điểm bảo hiểm nông nghiệp…
    - Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và tăng cường công tác khuyến nông hỗ trợ cho nông dân phát triển sản xuất hàng hoá, Chính phủ đã ban hành Quyết định 69/2009/QĐ-TTg ngày 04/3/2009 về bổ sung định biên và mức sinh hoạt phí đối với cán bộ khuyến nông chuyên trách ở xã làm công tác khuyến nông cơ sở; Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 về Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020; Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 08/01/2010 về khuyến nông; Quyết định số 176/QĐ-TTg ngày 29/01/2010 về Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020; Quyết định 1831/QĐ-TTg ngày 01/10/2010 về chương trình hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiền bộ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội nông thôn và miền núi giai đoạn 2011-2015…
    - Ban hành chính sách hỗ trợ đặc thù đối với vùng sản xuất lúa đảm bảo an ninh lương thực quốc gia như Nghị quyết 63/NQ-CP ngày 23/12/2009 về phê duyệt Đề án an ninh lương thực quốc gia; Quyết định 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 về phê duyệt đề án thí điểm bảo hiểm nông nghiệp; Quyết đinh 124/QĐ-TTg ngày 02/02/2012 về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn 2030…
    - Trong chương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 thì nội dung về hỗ trợ thúc đẩy phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập của người dân nông thôn là nội dung trọng tâm và sẽ tập trung ưu tiên triển khai trên cơ sở các xã đã hoàn thành quy hoạch xây dựng NTM và đề án NTM cấp xã. Hàng năm ngân sách nhà nước bố trí kinh phí cho triển khai chương trình này.
    - Rà soát, sửa đổi các giải pháp liên kết phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, Bộ nông nghiệp đã xây dựng và đang trình đề án Phát triển mô hình liên kết sản xuất giữa hộ nông dân với các thành phần kinh tế ở nông thôn…
    2.3- Hiện nay, Chính phủ đã giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về giá cả cho Bộ Tài chính (theo nghị định 118/2008/NĐ-CP ngày 27/11/2008). Bộ Nông nghiệp và PTNT đã nổ lực công tác thông tin thị trường nhằm cung cấp thông tin giá cả và tình hình tiêu thụ nông sản hàng hoá đến người sản xuất, người tiêu dùng, giúp người dân và doanh nghiệp kinh doanh chủ động định hướng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
    Về tình hình giá cả đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, Chính phủ đã có nhiều biện pháp bình ổn giá cả hàng hoá, trợ giá cho một số vật tư đầu vào cho sản xuất, giảm thuế nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi đã giảm xuống còn 0-5%
    Về tiêu thụ hàng nông sản, Bộ nông nghiệp và PTNT đã và đang triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại tìm đầu ra tiêu thụ sản phẩm cho nông dân, khuyến khích các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm cho người dân thông qua hợp đồng bao tiêu sản phẩm, gắn hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với vùng nguyên liệu, bảo đảm lợi ích cho người sản xuất.

 
 
 


VI. ĐỐI VỚI BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH.
1.    Ý kiến, kiến nghị của cử tri:
Để phát huy giá trị di sản văn hoá thế giới Thành Nhà Hồ, góp phần phát triển du lịch, thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh, đề nghị Chính phủ: Chỉ đạo Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch và các bộ ngành có liên quan nhanh chóng tập trung cho các dự án trùng tu, tôn tạo và phát huy giá trị di sản văn hoá thế giới Thành Nhà Hồ như: Đàn tế Nam Giao; Khôi phục hệ thống Hào Thành và các làng nghề truyền thống xung quanh Thành, với kinh phí khoảng 150 tỷ đồng.
2. Trả lời của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch:
Sau khi Thành Nhà Hồ được ghi vào Danh mục Di sản văn hoá thế giới, UBND tỉnh Thanh Hoá đã đề xuất với các Bộ, ngành liên quan để xây dựng Quy hoạch tổng thể Thành Nhà Hồ. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch và các Bộ, ngành liên quan đã có văn bản ủng hộ chủ trương này. Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc lập quy hoạch này do UBND tỉnh chỉ đạo thực hiện, dự kiến trong năm 2012, UBND tỉnh Thanh Hoá sẽ trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt Quy hoạch Thành Nhà Hồ. Trước mắt, Bộ văn hoá, Thể thao và Du lịch đã thoả thuận một số nội dung cấp thiết để triển khai như: tu bổ Đàn Nam Giao, chống thấm cổng Nam.

 
 
 


VII. ĐỐI VỚI BỘ NỘI VỤ.
1.    Ý kiến, kiến nghị của cử tri:
1.1- Cử tri kiến nghị chế độ cho cán bộ cấp xã và cán bộ bán chuyên trách quá thấp, trong khi khối lượng và áp lực công việc rất lớn, đề nghị Chính phủ nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các Nghị định quy định về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, cán bộ giúp việc có chế độ lương, phụ cấp phù hợp, đảm bảo công bằng, hợp lý nhằm động viên cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ và đảm bảo thuận lợi cho công tác triển khai thực hiện nhiệm vụ và phù hợp với xu hướng phát triển trong thời kỳ mới.
1.2- Tỉnh Thanh Hoá và tỉnh Hoà Bình có đường tỉnh giới dài 91,3 km nhưng đến nay hai tỉnh mới thống nhất địa giới hành chính và cắm mốc thực địa được 83,33 km, còn lại 8 km tại khu vực suối Xia giữa Phú Thanh, huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá và 2 xã Vạn Xuân, Mai Hịch, huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình đang còn tranh chấp địa giới hành chính. Đề nghị Quốc hội, Chính phủ quan tâm chỉ đạo để sớm giải quyết dứt điểm tranh chấp địa giới hành chính tại khu vực nêu trên, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác chỉ đạo, điều hành và ổn định đời sống nhân dân khu vực này.
2. Trả lời của Bộ trưởng Bộ Nội vụ:
2.1- Trong quá trình thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, nhiều địa phương phản ánh cần phải có điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung Nghị định này cho phù hợp, đặc biệt là chế độ phụ cấp đối với những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố.
Trên cơ sở tiếp thu, tổng hợp kiến nghị của cử tri và ý kiến chất vấn của ĐBQH tại một số kỳ họp của Quốc hội khoá XII và XIII, Bộ Nội vụ đang trình Chính phủ xin chủ trương sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009  cho phù hợp với tình hình thực tế ở cơ sở hiện nay.
2.2- Thực hiện Chỉ thị số 34-CT ngày 06/11/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính tỉnh, huyện, xã; đến nay vẫn còn một số khu vực tranh chấp giữa các tỉnh do chính quyền địa phương liên quan chưa thống nhất dược đường địa giới hành chính chung. Ngày 04/02/2012, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã thành lập Ban chỉ đạo liên ngành và Tổ giúp việc giải quyết tranh chấp đát đai liên quan đến địa giới hành chính cấp tỉnh. Trong thời gian tới, Ban chỉ đạo và Tổ Giúp việc sẽ tích cực triển khai các nhiệm vụ được giao. Đối với các tỉnh có liên quan thì UBND tỉnh cần chủ động phối hợp với nhau để xác định đường ranh giới chung và báo cáo kết quả về Bộ Nội vụ, Bộ Tài nguyên và Môi trường. trường hợp các tỉnh không thể thoả thuận đi đến thống nhất thì báo cáo để Bộ Nội vụ chỉ đạo Ban chỉ đạo và Tổ Giúp việc phối hợp với các địa phương liên quan xây dựng phương án trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

 
 
 


VIII. ĐỐI VỚI BỘ Y TẾ.
1.    Ý kiến, kiến nghị của cử tri:
Đề nghị tiếp tục đầu tư nâng cấp trang thiết bị, cơ sở hạ tầng kỹ thuật y tế tuyến cơ sở; tăng cường đào tạo về chuyên môn, đạo đức cho đội ngũ y, bác sỹ và sửa đổi, bổ sung chính sách nhằm thu hút đội ngũ y, bác sỹ có trình độ chuyên môn cao về tuyến huyện, xã nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân, giảm tải khám chữa bệnh ở tuyến trên; hạn chế phiền hà, tốn kém cho người bệnh.
2. Trả lời của Bộ Y tế.
a, Về đầu tư trang cấp trang thiết bị, cơ sở hạ tầng kỹ thuật y tế tuyến cơ sở.
    Năm 2010, Bộ Y tế đã xây dựng đề án trái phiếu Chính phủ cho đầu tư nâng cấp trạm y tế (TYT) xã. Nếu được Quốc hội, Chính phủ cho phép trình, Bộ Y tế có thể trình Thủ tướng Chính phủ vào Quý II/2012. Bộ Y tế cũng đã ban hành chuẩn Quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011-2020 (đây cũng là một trong những tiêu chí để các xã đạt chuẩn Nông thôn mới); trong đó, có một số tiêu chí bắt buộc phải thực hiện cho khu vực thành thị và nông thôn. Bộ Y tế cũng đã ban hành chuẩn quốc gia về y tế dự phòng (YTDP).
    Các giải pháp tổng thể về cơ chế, chính sách đã được Bộ chính trị thông qua nhằm tăng tỷ lệ đầu tư ngân sách cho ngành y tế. Bộ Y tế đã xây dựng trình Chính phủ đề án Đổi mới cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính, trong đó đề nghị tăng tỷ lệ chi ngân sách hàng năm cho sự nghiệp y tế, đảm bảo tốc độ tăng chi cho y tế cao hơn tốc độ tăng chi bình quân chung của ngân sách nhà nước; đồng thời cơ cấu lại phân bổ ngân sách theo hướng ưu tiên cho vùng núi, vùng khó khăn, y tế dự phòng, y tế cơ sở, ưu tiên chi đầu tư phát triển để nâng cấp và hoàn thiện hệ thống y tế công lập; nhà nước đảm bảo ngân sách cho các hoạt động y tế dự phòng, dân số kế hoạch hoá gia đình và vệ sinh an toàn thực phẩm.
    Bộ Y tế đã trình Chính phủ báo cáo Quốc hội ban hành Nghị quyết số 18/2008/QH12 ngày 03/6/2008 về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật xã hội hoá để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân, trong đó dành ít nhất 30% tổng chi ngân sách cho y tế dự phòng. Hiện nay Bộ Y tế đang lấy ý kiến góp ý các địa phương để ban hành thông tư hướng dẫn phương thức phân bổ chi kinh phí cho YTDP.
Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị về đổi mới cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính và chuẩn bị triển khai khi đề án chính thức được thông qua. Bộ Y tế đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Hỗ trợ phát triển trung tâm YTDP tuyến huyện giai đoạn 2007-2010 (tại Quyết định 1402/QĐ-TTg ngày 15/10/2007) và phê duyệt đầu tư xây dựng TYT xã thuộc vùng khó khăn giai đoạn 2008-2010 (tại Quyết định 950/QĐ-TTg ngày 27/10/2007). Dự kiến nhu cầu đầu tư của 2 Dự án là 16.000 tỷ đồng và hằng năm Bộ Y tế cũng đã xây dựng nhu cầu kinh phí để đề nghị Bộ KH&ĐT cân đối khoảng 900 - 1.200 tỷ đồng chi hỗ trợ đầu tư cho các địa phương. Tuy nhiên do ngân sách hạn hẹp nên hàng năm Bộ KH&ĐT chỉ bố trí được khoảng 500 tỷ đồng để đầu tư nhưng không phải chỉ riêng cho 2 dự án này. Dự kiến trong những năm tới, nếu nguồn vốn đầu tư phát triển chưa đảm bảo, Bộ Y tế sẽ báo cáo Chính phủ huy động từ nguồn Trái phiếu Chính phủ để thực hiện các mục tiêu của 2 dự án này. Hướng đề nghị đưa nội dung đầu tư cho trung tâm YTDP huyện vào mục tiêu Quốc gia, Bộ Y tế tiếp thu và nghiên cứu, trao đổi với Bộ KH&ĐT, Bộ Tài chính xem xét báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét Quyết định.
b. Về tăng cường đào tạo về chuyên môn, đạo đức cho đội ngũ y, bác sỹ:
Về tăng cường đào tạo về chuyên môn, đạo đức cho đội ngũ y, bác sỹ
Trong những năm qua, việc tăng cường đào tạo về chuyên môn, đạo đức để nâng cao chất lượng độ ngũ y, bác sỹ luôn được Bộ Y tế chú trọng tiến hành thông qua các hoạt động như:
- Tăng cường cơ sở vật chất, học cụ, học liệu phục vụ công tác giảng dạy thông qua nguồn ngân sách Nhà nước, các dự án sử dụng kinh phí ODA và các nguồn tài trợ khác.
- Cải tiến phương pháp dạy học, áp dụng các phương pháp dạy học tiên tiến.
- Nâng cao chất lượng, số lượng đội ngũ giảng viên, giáo viên. Giảng viên, giáo viên được khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để học tập, nâng cao trình độ, đặc biệt đào tạo Tiến sĩ. Việc đào tạo giáo viên, giảng viên không những được thực hiện thông qua nguồn ngân sách Nhà nước, mà trong hầu hết các dự án hợp tác với nước ngoài đề có hợp phần đào tạo cán bộ giảng dạy.
- Đa dạng hóa loại hình đào tạo. Việc đào tạo liên thông, đào tạo theo địa chỉ sử dụng được chú trọng để vừa đảm bảo nhân lực y tế cho tuyến cơ sở, miền núi, vùng khó khăn, đồng thời đảm bảo chất lượng đào tạo.
- Xây dựng và triển khai thực hiện các chuẩn trong đào tạo nhân lực y tế, triển khai công tác kiểm định chất lượng đào tạo.
- Quan tâm xây dựng, thực hiện các đề án, dự án để tăng cường cơ sở vật chất, học liệu, đội ngũ cán bộ giảng dạy, gồm cả đề án riêng cho các vùng khó khăn như “Đề án đào tạo nhân lực y tế cho vùng khó khăn, vùng núi của các tỉnh thuộc miền Bắc và miền Trung, vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng Tây Nguyên theo chế độ cử tuyển”.
- Tăng cường đào tạo lại, đào tạo liên tục cho đội ngũ nhân lực y tế. Việc tham gia các lớp đào tạo lại hằng năm là bắt buộc đối với người làm việc trong lĩnh vực y tế.
- Cử cán bộ tuyến trên về hỗ trợ, đào tạo tại chỗ, chuyển giao kỹ thuật cho cán bộ tuyến dưới, ưu tiên miền núi, vùng khó khăn như Đề án “Cử cán bộ chuyên môn luân phiên từ bệnh viện tuyến trên về hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh” (thường được gọi tắt là Đề án 1816).
- Về đạo đức nghề Y, ngoài việc giảng dạy thông qua tấm gương của các thầy, cô dạy lồng ghép trong các môn học, bài học, Bộ Y tế còn chỉ đạo các trường thành lập bộ môn Y đức, dây dựng giáo trình, tài liệu giảng dạy cho môn học này. Đồng chí Bộ trưởng và nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế đã trực tiếp là Chủ nhiệm danh dự của hai bộ môn Y đức tại hai trường đại học Y lớn là Trường Đại học Y Hà Nội và Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.
b, Về sửa đổi, bổ sung chính sách nhằm thu hút đội ngũ y, bác sỹ có trình độ chuyên môn cao về tuyến huyện, tuyến xã.
- Về chế độ phụ cấp ưu đãi ngành: Bộ Y tế đã chủ trì và phối hợp với các Bộ ngành có liên quan xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành chế độ phụ cấp ưu đãi ngành.
- Về nâng mức phụ cấp đặc thù (phụ cấp trực, phẫu thuật thủ thuật và phụ cấp phòng chống dịch): hiện nay Bộ Y tế đang chỉnh sửa lại mức phụ cấp tăng lên theo ý kiến thống nhất của Bộ Tài chính để trình Thủ tướng Chính phủ trong năm 2011.
- Về chính sách và phụ cấp cho cán bộ y tế công tác tại miền núi, vùng sâu, vùng xa: Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/2009/NDD-CP ngày 30/7/2009, về chính sách đối với cán bộ, viên chức y tế công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trong đó có các chế độ về phụ cấp ưu đãi, phụ cấp thu hút và trợ cấp tham quan, học tập, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ.
- Về tăng cường cán bộ và trợ giúp học bổng ưu đãi cho học sinh miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Để tăng cường cán bộ y tế cho miền núi, vùng sâu, vùng xa, Bộ Y tế đã trình và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án đào tạo nhân lực y tế cho vùng khó khăn, vùng núi của các tỉnh phía Bắc, miền Trung, vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng Tây Nguyên theo chế độ cử tuyển” tại Quyết định số 1544/QDD-TTg ngày 14/11/2007. Học sinh học tập theo đề án này được ngân sách Nhà nước đảm bảo toàn bộ học bổng, học phí, sinh hoạt phí,… theo quy định tại Thông tư liên tịch số 23/2008/TTLT-BGDĐT-LĐTB&XH-BTC ngày 28/4/2008 và Thông tư liên tịch số 13/2008/TTLT-BGDĐT-LĐTB&XH-BTC-BNV-UBDT ngày 07/4/2008. Toàn bộ các khoản kinh phí này được cấp thông qua các địa phương và cấp trực tiếp cho người học.
Bộ Y tế nhất trí cần tiếp tục tăng cường đào tạo, chi viện và nâng cao năng lực cho cán bộ y tế tuyến dưới và cơ sở hạ tầng, coi đây là giải pháp lâu dài, căn cơ để thực hiện giảm quá tải cho tuyến trên (đặc biệt là các bệnh viện chuyên khoa tuyến cuối). Bên cạnh tiếp tục thực hiện đề án 1816 luân phiên cán bộ hỗ trợ cho tuyến dưới, Bộ Y tế đang tích cực xây dựng Đề án tổng thể chống quá tải bệnh viện trình Chính phủ phê duyệt. Các địa phương cần chủ động có chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cho hệ thống y tế.

 
 
 


IX. ĐỐI VỚI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO.
1. Ý kiến, kiến nghị của cử tri.
1.1- Cử tri cho rằng giáo dục mầm non vẫn chưa được Nhà nước quan tâm đúng mức, nhiều cơ sở mầm non tư thục chưa được cấp phép, giáo viên chưa đạt tiêu chuẩn, rất ít số lượng trường mầm non đạt chuẩn Quốc gia. Cử tri tiếp tục đề nghị nhà nước cần tăng cường hỗ trợ cho giáo viên mầm non, bổ sung thêm biên chế cho giáo viên mầm non; đẩy mạnh việc đầu tư, nâng cấp các trường mầm non đạt chuẩn quốc gia; xem xét đưa giáo dục mầm non vào hệ thống công lập ở khu vực nông thôn hoặc chuyển hẳn sang xã hội hoá giáo dục mầm non.
1.2- Đề nghị Chính phủ có chính sách miễn học phí đối với học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số đang theo học trung học phổ thông, cao đẳng và đại học nhằm tạo điều kiện thụân lợi cho con em theo học và góp phần nâng cao mặt bằng dân trí vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
1.3- Đề nghị Chính phủ xem xét cho kéo dài thời gian thực hiện chương trình kiên cố hoá trường học, nhà công vụ cho giáo viên và xem xét kéo dài thời gian thực hiện Nghị định 132/NĐ-CP về giải quyết, sắp sếp lại đội ngũ cán bộ, giáo viên dôi dư; sớm ban hành bổ sung về chế độ phụ cấp thâm niên cho cán bộ quản lý ngành giáo dục và đội ngũ giáo viên.
    2. Trả lời của Bộ Giáo dục và Đào tạo:
    2.1- Được sự quan tâm của Đảng, Chính phủ, Quốc hội, trong những năm qua, giáo dục mầm non đã có sự phát triển khá toàn diện. Số trẻ đến trường ngày càng tăng, đội ngũ giáo viên phát triển về số lượng, chất lượng ngày càng được nâng cao, tính đến cuối năm học 2010 - 2011, tỷ lệ giáo viên mầm non đạt chuẩn 94,6%, trong đó trình độ trên chuẩn đạt 70,4%, đời sống giáo viên ngày càng được cải thiện. Cơ sở vật chất trường lớp được tăng cường. Đến nay, đã có 48% số phòng học được kiên cố hoá, hiện có 2.454 trường mầm non được công nhận đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 18,9%, trong đó các tỉnh đạt tỷ lệ cao như Bắc Ninh (66,9%), Vĩnh Phúc (59,6%), Ninh Bình (53,0%)
    Tuy nhiên giáo dục mầm non vẫn còn một số khó khăn bất cập: một số địa phương quản lý trường mầm non ngoài công lập chưa chặt chẽ, một số cơ sở mầm non tư thục chưa được cấp phép theo quy định tại Thông tư số 28/2011/TT-BGDĐT ngày 15 tháng 7 năm 2011 sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế tổ chức và hoạt động trường mầm non tư thục ban hành theo quyết định số 41/2008/QĐ-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Một số địa phương tỷ lệ trường mầm non đạt chuẩn quốc gia còn thấp, vẫn còn nhiều phòng học nhờ, phòng học tạm ảnh hưởng đến việc huy động số lượng, nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ.
    Về biên chế giáo viên mầm non cho các cơ sở giáo dục mầm non hiện đang thực hiện theo Quyết định số 62/2007/QĐ-BGDĐT ngày 26/10/2007 và Thông tư liên tịch số 71/2007/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 28/11/2007 về hướng dẫn định mức biên chế trong các cơ sở giáo dục mầm non công lập. Ngoài ra theo quyết định số 239/QĐ-TTg ngày 09/2/2010 của Thủ tướng Chính phủ có quy định: Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chỉ đạo việc thực hiện chế độ chính sách về tuyển dụng đối với giáo viên mầm non trên địa bàn theo quy định.
    Trong thời gian tới, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ đề xuất Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình kiên cố hoá giai đoạn 2010 - 2015, trong đó ưu tiên cho xây dựng cơ sở vật chất trường lớp mầm non. Hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện chế độ, chính sách quy định tại Quyết định số 60/2011/QĐ-TTg ngày 26 tháng 10 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ, theo đó đối với giáo viên (bao gồm cả hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong các cơ sở giáo dục mầm non công lập, dân lập sẽ được Nhà nước hỗ trợ ngân sách để trả lương theo thang bảng lương giáo viên mầm non, được nâng lương theo định kỳ, được tham gia đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế và các chế độ chính sách khác như giáo viên có cùng trình độ đào tạo đang hợp đồng làm việc tại các cơ sở giáo dục mầm non công lập. Giáo viên mầm non công tác tại các cơ sở giáo dục mầm non tư thục được hỗ trợ chi phí bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị và chuyên môn, nghiệp vụ. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tình hình quản lý các cơ sở giáo dục mầm non, chấn chỉnh việc cấp phép các cơ sở mầm non tư thục.
    2.2- Về chính sách miễn học phí đối với học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số đang theo học trung học phổ thông, cao đẳng và đại học.
Theo Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm 2010 - 2011 đến năm học 2014 - 2015 đã quy định: Học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số thuộc diện hộ nghèo và hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo thì được miễn học phí. Đối với các đối tượng khác nếu gặp khó khăn về kinh tế thì được Nhà nước thực hiện chính sách cho vay để học theo Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên do đó đã phần nào giảm bớt khó khăn cho học sinh con đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng đi học và các đối tượng khác không phải là dân tộc thiểu số nhưng có khó khăn về kinh tế khi đi học. Đối với đối tượng học sinh là người dân tộc thiểu số đang học trung học phổ thông, do điều kiện ngân sách nhà nước còn nhiều khó khăn nên chưa thực hiện miễn học phí. Khi điều kiện kinh tế đất nước được nâng lên, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ phối hợp cùng với Bộ Tài chính, Bộ Lao dộng - Thương binh và Xã hội báo cáo Chính phủ xem xét, bổ sung đối tượng miễn học phí cho đối tượng này.
    2.3- Về kéo dài thời gian thực hiện chương trình kiên cố hoá trường học, nhà công vụ cho giáo viên và xem xét kéo dài thời gian thực hiện Nghị định 132/NĐ-CP về giải quyết, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, giáo viên dôi dư; sớm ban hành bổ sung về chế độ phụ cấp thâm niên cho cán bộ quản lý ngành giáo dục và đội ngũ giáo viên.
a, Đề án kiên cố hoá trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008 - 2012 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 20/2008/QĐ-TTg ngày 01/2/2008.
    Trong quá trình thực hiện, do tăng giá nên tổng số vốn phê duyệt không thể giải quyết hết số phòng học và nhà công vụ giáo viên như kế hoạch đã được phê duyệt. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề nghị Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ xem xét một số nội dung sau:
    - Thực hiện tiếp đề án giai đoạn 2012 - 2015 để hoàn thành kế hoạch danh mục theo mục tiêu đã được phê duyệt tại quyết định số 20/2008/QĐ-TTg ngày 01/2/2008 của Thủ tướng Chính phủ.
    - Xem xét, bổ sung vào giai đoạn tiếp theo số phòng học mượn, học nhờ chưa được giải quyết. Số phòng học này chủ yếu tập trung ở các vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc, các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.
    b, Về đề nghị xem xét kéo dài thời gian thực hiện Nghị quyết 132/QĐ-CP về việc giải quyết, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, giáo viên dôi dư.
    Bộ Giáo dục và đào tạo xin tiếp thu ý kiến chỉ đạo việc sơ kết, đánh giá kết quả thực hiện của các địa phương, cơ sở giáo dục. Trên cơ sở đó đề xuất với Bộ Nội vụ để báo cáo chính phủ xem xét, quyết định.
c, Về đề nghị sớm ban hành bổ sung về chế độ phụ cấp thâm niên cho cán bộ quản lý ngành giáo dục và đội ngũ giáo viên.
    - Về ý kiến "sớm ban hành bổ sung chế độ phụ cấp thâm niên đối với cán bộ quản lý ngành giáo dục (Phòng, Sở, Bộ Giáo dục và Đào tạo):
    Tại dự thảo Nghị định Chính phủ về chế độ phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề xuất đối tượng hưởng gồm cả cán bộ quản lý giáo dục các cấp (những người đã có từ đủ 5 năm trở lên trực tiếp giảng dạy, giáo dục trong các cơ sở giáo dục, hiện đang công tác ở cơ quan quản lý giáo dục các cấp). Nhưng khi gửi lấy ý kiến về đối tượng hưởng phụ cấp thâm niên thì đa số các Bộ, ngành có ý kiến: chỉ áp dụng chế độ phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy, giáo dục, không áp dụng chế độ phụ cấp thâm niên với đối tượng cán bộ quản lý giáo dục các cấp vì các lý do sau:
    Nhà giáo khi được điều động về làm công tác quản lý, tham mưu, chỉ đạo về giáo dục, dạy nghề ở các cơ quan trung ương và địa phương thì trở thành cán bộ, công chức và chịu sự điều chỉnh của Luật cán bộ, công chức. Vì vậy, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục công tác ở Phòng, Sở và Bộ Giáo dục và Đào tạo phải thực hiện chế độ tiền lương, phụ cấp theo quy định như đối với cán bộ, công chức.
    Căn cứ NĐ số 35/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội về chủ trương, định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính trong GD và ĐT từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 - 2015, ngày 5/8/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành QĐ số 42/2011/TTg về bảo lưu chế độ phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo được điều động làm công tác quản lý giáo dục. Theo đó, nhà giáo giảng dạy trong các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập có quyết định điều động, biệt phái, luân chuyển (sau đây gọi chung là điều động) có hiệu lực trong thời gian từ ngày 01 tháng 9 năm 2010 đến ngày 31 tháng 5 năm 2015 về công tác tại các phòng GD - ĐT; Sở GD - ĐT mà không giữ chức vụ lãnh đạo và không được hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo thì được bảo lưu chế độ phụ cấp ưu đãi đang được hưởng ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập trước khi được điều động về công tác tại phòng GD - ĐT, Sở GD - ĐT. Thời gian bảo lưu là thời gian thực tế nhà giáo làm việc tại phòng GD - ĐT, Sở GD - ĐT nhưng tối đa là 36 tháng, nhằm hỗ trợ nhà giáo khắc phục khó khăn trong thời gian đầu thực hiện quyết định điều động.
    d, Về ý kiến sớm ban hành chế độ phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo.
    Ngày 4/7/2011 Chính phủ ban hành Nghị định số 54/2011/NĐ-CP về chế độ phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo. Thực hiện khoản 3, điều 5, nghị định số 54/2011/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 30/12/2011, liên Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư liên tịch số 68/2011/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC-BLĐTBXH, hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 54/2011/NĐ-CP của Chính phủ. Thông tư liên tịch có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/2/2012./.

 
 
 


X. ĐỐI VỚI BỘ CÔNG AN.
1. Ý kiến, kiến nghị của cử tri. Dự án nuôi trồng thuỷ sản của Trại giam Thanh Phong (thuộc Tổng cục III - Bộ Công an) mặc dù đã được đầu tư (hơn 9 tỷ đồng), tổ chức triển khai từ nhiều năm, nhưng cũng như nhiều Dự án trên địa bàn Tỉnh Thanh Hoá đến nay khó có khả năng tiếp tục hoạt động làm ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống của nhân dân. Đề nghị Bộ Công an cho dừng việc thực hiện Dự án nuôi trồng thuỷ sản trên Sông Đừng, bàn giao cho địa phương quản lý.
    2. Trả lời của Bộ Công an: Sau khi nhận được kiến nghị của đoàn ĐBQH  tỉnh Thanh Hoá, Bộ trưởng Bộ Công an đã chỉ đạo giải quyết theo hướng: Bộ đồng ý cho dừng việc thực hiện Dự án nuôi trồng thuỷ sản trên Sông Đừng, bàn giao cho địa phương quản lý, đồng thời hỗ trợ phần kinh phí mà Bộ đã đầu tư vào dự án giúp địa phương giải quyết dứt điểm vụ việc trên (Bộ sẽ có công văn trả lời cho Đoàn và địa phương trong thời gian tới).

 
 
 

 

 
 
 
 
 
 
 
XI. ĐỐI VỚI BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI.
 
 
 
1. Ý kiến, kiến nghị của cử tri.
 
 
 
1.1- Cử tri ở khu vực đường Hồ Chí Minh đi qua đề nghị Chính phủ sớm có chính sách đền bù, giải toả mặt bằng Đường Hồ Chí Minh giai đoạn II, tạo điều kiện cho bà con ổn định sản xuất và đời sống (hiện tại nhà nước đã cắm mốc giới hành lang nhưng chưa thực hiện đền bù).
 
 
 
1.2- Nhằm tạo điều kiện tăng sức hấp dẫn thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; Đề nghị Chính phủ đồng ý cho Thanh Hoá được sử dụng một phần năng lực của sân bay Sao vàng để khai thác vận tải dân dụng. Đồng thời quan tâm đầu tư các tuyến đường giao thông kết nối Khu kinh tế Nghi Sơn – TP Thanh Hoá với sân bay Sao Vàng, cụ thể là: Đầu tư tuyến đường từ Khu kinh tế Nghi Sơn đi Sao Vàng, dài 40 km, đảm bảo quy mô đường cấp II đồng bằng (4 làn xe).
 
 
 
2. Trả lời của Bộ Giao thông – Vận tải:
 
 
 
2.1- Theo Nghị định số 11/2010/NĐ-CP ngày 24/02/2010 của Chính phủ qui định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, theo đó hành lang an toàn đường bộ chỉ được sử dụng và khai thác để phục vụ ục đích an toàn giao thông vận tải đường bộ, nghiêm cấm việc lấn chiếm và xây dựng công trình trong hành lang an toàn an toàn đường bộ.
 
 
 
Dự án đường Hồ Chí Minh đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể tại Quyết định số 224/QĐ-TTg ngày 15/12/2007. Căn cứ vào quy hoạch tổng thể, Bộ GTVT đã triển khai quy hoạch chi tiết cắm mốc GPMB và mốc lộ giới theo mặt cắt ngang quy hoạch đối với các dự án thành phần thuộc dự án đường Hồ chí Minh. Tuân thủ quy hoạch đường Hồ Chí Minh đã được phê duyệt, trong quá trình quản lý hành lang an toàn đường bộ, các cơ quan quản lý không cho phép các hộ dân sống trong hành lang an toàn đường bộ của đường Hồ Chí Minh xây dựng, làm mới nhà cửa và các công trình là tuân thủ theo qui định của Nghị định số 11/2010/NĐ-CP ngày 24/02/2010.
 
 
 
Việc thực hiện quy hoạch đường Hồ Chí Minh và quản lý hành lang an toàn đường bộ với đường Hồ Chí Minh: Do kinh phí đền bù để di dời toàn bọ các công trình đang tồn tại trong hành lang an toàn đường bộ thuộc hệ thống Quốc lộ trong phạm vi cả nước rất lớn, ngân sách nhà nước hiện tại chưa thể đáp ứng dược nên trước mắt Bộ GTVT báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong điều kiện kinh phí còn hạn hẹp, mới triển khai đền bù di dời công trình ra khỏi phạm vi an toàn đường bộ dối với một số ít tuyến đường trọng yếu nhằm đản bảo ATGT khi khai thác đường bộ và đường sắt theo Quyết định số 1856/QĐ-TTg ngày 27/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ. Còn những dự án đầu tư mới như dự án đường Hồ Chí Minh đang thực hiện qui hoạch đã được Chính phủ phê duyệt, khi có nguồn kinh phí sẽ triển khai thực hiện.
 
 
 
2.2- Việc khai thác sân bay quân sự Sao Vàng phục vụ hàng không dân dụng đã được sự thống nhất của Bộ Quốc phòng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Bộ GTVT nghiên cứu sự cần thiết và hiệu quả của việc sử dụng một phần năng lực của sân bay quân sự Sao Vàng để phục vụ hoạt động hàng không dân dụng. Hiện tại, Bộ GTVT đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị của Bộ tiến hành nghiên cứu sự cần thiết và hiệu quả của việc sử dụng sân bay Sao Vàng. Sau khi có kết quả nghiên cứu, Bộ GTVT sẽ phối hợp với Bộ Quốc phòng và UBND tỉnh Thanh Hoá báo cáo Thủ tướng Chính phủ việc đầu tư xây dựng. Trong quá trình nghiên cứu, Bộ GTVT sẽ xem xét cả việc đầu tư tuyến đường từ Khu kinh tế Nghi Sơn đi Sao Vàng trong tổng thể Dự án./.
 
 
 
 
 
 
 
Văn phòng Đoàn ĐBQH     
 
 
 
 
 
 
 

 

 
 
 

Số lần đọc: 3185

Các tin liên quan

Hình ảnh nổi bật»

Tin tiêu điểm
© TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ ĐOÀN ĐBQH VÀ HĐND TỈNH THANH HÓA
Cơ quan thường trực: Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Thanh Hóa. Trưởng Ban biên tập: Lê Văn Dũng - Chánh Văn phòng;
Phó trưởng Ban biên tập: Bùi Văn Lưỡng - Phó Chánh Văn phòng; Thư ký Ban biên tập: Lê Hùng Cường - Trưởng phòng Tổng hợp - Thông tin
Địa chỉ: 35 Đại lộ Lê Lợi, phường Lam Sơn, thành phố Thanh Hóa. Điện thoại: (0237) 3.852.255; Fax: (0237) 3.750.660; Email: banbientap@thanhhoadbnd.vn
® Bản quyền thuộc về Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa. Khi phát hành thông tin từ trang TTĐT Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh đề nghị ghi rõ nguồn: "thanhhoadbnd.vn".